♦TS. Lê Thị Thu Hương
(tiếp theo và hết)
*Thăng Long thời Lý - Trần
Dưới thời Trần, kinh thành Thăng Long ba lần thắng quân xâm lược Mông - Nguyên
Kháng chiến lần thứ nhất với chiến thắng Đông Bộ Đầu năm 1258
Thế kỷ XIII, võ ngựa của quân Mông Cổ có mặt ở nhiều nơi trên thế giới (Đông Á, Trung Á, Tây Á và Đông Âu). Quân Mông Cổ do Khubilai (Hốt Tất Liệt) thống lĩnh đã đánh chiếm nửa phía Bắc của Trung Quốc và chuẩn bị kế hoạch tấn công Đại Việt, để từ đó mở thêm hướng đánh lên phía Bắc, tiêu diệt Nam Tống. Trước khi vào Đại Việt quân Mông Cổ đã nhiều lần cho sứ giả đến Thăng Long dụ hàng vua Trần Thái Tông nhưng nhà vua đã không một chút kiêng sợ, đã ra lệnh tống giam tất cả các sứ giả Mông Cổ vào ngục. Đồng thời, ra lệnh cho cả nước chuẩn bị vũ khí đánh giặc Mông Cổ. Trần Quốc Tuấn được cử làm tổng chỉ huy quân đội. Cuối năm 1257, tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy khoảng 4 vạn kỵ binh kéo vào nước ta, theo đường bộ dọc sông Hồng tiến về Thăng Long. Trước thế giặc mạnh, nhà vua đã quyết định rút khỏi kinh đô Thăng Long để bảo toàn lực lượng. Cuộc rút lui chiến lược của quân đội và triều đình được chuẩn bị chu đáo. Tinh thần chiến đấu của vua tôi nhà Trần không hề nao núng dù phải rút lui nhưng bên cạnh vua đều có những bề tôi yêu nước. Trần Thủ Độ với câu nói "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo" đã củng cố tinh thần và quyết tâm của vua tôi nhà Trần và cũng là ý chí của toàn quân, toàn dân Đại Việt khi đó. Khi quân Mông Cổ kéo vào Thăng Long, chỉ thấy một kinh thành vắng bóng người, chỉ có mấy tên sứ giả bị nhốt trong ngục. Bọn giặc điên cuồng tàn phá kinh thành, đốt cung điện để trả thù. Quân Mông Cổ bị rơi vào thế thiếu lương thảo cho cả người và ngựa, chúng phải đi cướp phá những vùng xung quanh, đi đến đâu cũng gặp phải sự kháng cự của nhân dân các làng ngoại thành. Tiêu biểu là cuộc chiến đấu bảo vệ xóm làng của dân làng Cổ Sở (nay là xã Dương Hòa - Hà Nội), khiến cho quân Nguyên phải chùn bước.
Địch vào Thăng Long không có lương thảo, chúng không dám đóng quân trong thành, cũng không dám phân tán lực lượng mà phải ra đóng trại ở bến Đông Bộ Đầu (phố Hàng Than - phường Ba Đình ngày nay). Chiến lược đánh nhanh thắng nhanh và cướp lương thực tại chỗ nuôi quân của giặc bị thất bại, chúng phải án binh bất động. Nhân cơ hội đó, vua Trần Thái Tông và Thái sư Trần Thủ Độ bàn với các tướng đánh úp giặc. Quân Trần chia làm hai cánh thủy bộ, tấn công vào đại bản doanh của địch. Bị bất ngờ địch tháo chạy, có tên không kịp mặc giáp, ngựa không kịp đóng yên chạy về hướng Vân Nam - Trung Quốc. Trên đường chúng chạy, đến trại Quy Hóa (Phú Thọ) lại bị dân binh dưới sự chỉ huy của Hà Bổng đánh bại. Như vậy sau 9 ngày chiếm đóng Thăng Long, quân Mông Cổ đã hoàn toàn bị thất bại.
Chiến thắng Đông Bộ Đầu vang vọng mãi trong lịch sử kinh thành Thăng Long. Đó là niềm tự hào và sự cổ vũ to lớn của quân dân Thăng Long và nhân dân cả nước, tạo niềm tin để nhân dân ta tiếp tục giành thắng lợi ở những trận tiếp theo.
Kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai (1285): Trận Chương Dương - Thăng Long (6-1285)
Sau khi diệt Nam Tống (Trung Quốc), Hốt Tất Liệt lên làm vua, lập lên triều Nguyên (1271-1368). Để lấy cớ phát động chiến tranh xâm lược, trong quan hệ ngoại giao, nhà Nguyên ngày càng lấn tới đe dọa và thậm chí còn ép triều đình nhà Trần phải đầu hàng.
Trước nguy cơ chiến tranh đến gần, triều đình cùng nhân dân chuẩn bị mọi mặt để chống giặc. Năm 1282, vua Trần tổ chức Hội nghị Bình Than, cùng với các vương hầu tướng lĩnh bàn kế phòng, đánh quân Nguyên. Tại Hội nghị Bình Than những mâu thuẫn nội bộ trước đây trong các quý tộc nhà Trần được gỡ bỏ, tất cả chung lòng để chuẩn bị bảo vệ Tổ Quốc. Trần Quốc Toản còn nhỏ tuổi không được đi đánh giặc đã bóp nát quả cam và về chuẩn bị lực lượng dẫn giương cao ngọn cờ có thêu sáu chữ "Phá cường địch, báo hoàng ân" đã gây xúc động lòng người. Sau đó tại điện Diên Hồng ở kinh thành Thăng Long, nhà vua đã mời các bô lão trong cả nước đến để bàn kế đánh giặc. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được phong làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh quân đội và ban bố Hịch tướng sĩ cổ vũ quyết tâm kháng chiến trong toàn quân. Lời hịch là tiếng gọi tha thiết của non sông đất nước, lay động hàng vạn con tim, tràn đầy hùng khí thôi thúc tất cả mọi người đứng lên chống giặc.
Năm 1285, khoảng 60 vạn quân Nguyên theo ba hướng tấn công vào Đại Việt. Trước thế địch mạnh, lần thứ hai, vua tôi nhà Trần lại rút khỏi kinh thành Thăng Long. Đến mùa hè năm 1285, quân Nguyên kéo vào nước ta một mặt bị vua tôi nhà Trần cùng nhân dân phục kích tiêu diệt, mặt khác nóng bức, không quen thủy thổ, bênh tật ốm đau lại thiếu lương thảo, đây là thời cơ thuận lợi để ta tiêu diệt địch lấy lại kinh thành Thăng Long. Nổi bật trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần hai tại Thăng Long có chiến thắng ở A Lỗ, Tây Kết - Hàm Tử gắn với công lao của Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản... và đặc biệt là trận Chương Dương, với công lao của Trần Quang Khải. Sách Việt sử thông giám cương mục chép: "Trước đây, Thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn hầu Quốc Toản đem quân dân đánh các lộ đánh bại được quân Nguyên ở Chương Dương, thu phục kinh thành"[1]. Âm hưởng về những chiến công của vua tôi nhà Trần còn vang mãi trong bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải:
"Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu trí lực
Vạn cổ thử giang san"
(Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu).
Kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ ba (1287 -1288)
Sau hai lần thất bại, Hốt Tất Liệt lại tổ chức xâm lược nước ta lần thứ ba. Khác với hai lần trước, lần này có thêm cánh quân thủy mang theo lương thảo đầy đủ. Lần thứ ba này, quân Nguyên dồn sức lực của cả đế chế để mạnh để quyết tâm xâm chiếm nước ta.
Qua kinh nghiệm dầy dạn của hai lần kháng chiến trước, đến lần thứ ba, Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã chủ động đề ra kế hoạch đánh giặc. Lần thứ ba, cả triều đình bước vào cuộc kháng chiến với khí thế quyết tâm tự tin. Đến lần thứ ba vua tôi nhà Trần cùng nhân dân lại tiếp tục rút khỏi kinh thành Thăng Long.
Khi đoàn lương thảo của giặc do Trương Văn Hổ chỉ huy đã bị phó tướng nhà Trần là Trần Khánh Dư tổ chức đánh bại, giặc hoảng hốt rút chạy về nước. Thoát Hoan đóng quân ở kinh thành Thăng Long 32 ngày rồi cũng phải rút chạy về Vạn Kiếp. Trên đường từ Vạn Kiếp rút về nước, hai cánh quân thủy, bộ của Thoát Hoan bị quân dân Đại Việt chặn đánh. Đặc biệt là trận đánh trên sông Bạch Đằng, dưới sự chỉ huy của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương vừa kết hợp hỏa công vừa lợi dụng thủy triểu lên, bên dưới là bãi cọc nên đã tiêu diệt toàn bộ cánh quân thủy của địch. Thắng lợi này thể hiện tài thao lược của Trần Hưng Đạo, sự sáng tạo của nhân dân, luôn biết kế thừa kinh nghiệm của cha ông trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc.
Thăng Long thế kỷ XIII, ba lần bị quân Mông - Nguyên tàn phá, vua tôi phải rút khỏi kinh thành nhưng bài học về tinh thần đoàn kết, lòng quyết tâm của toàn quân, toàn dân dưới sự chỉ huy của bộ máy lãnh đạo giỏi sẽ chiến thắng mọi kẻ thù thì luôn luôn đúng ở mọi thời đại.
Thăng Long thời kì nhà Hồ
Cuối thế kỷ XIV, vương triều Trần suy yếu, có những biến động chính trị dẫn đến kinh tế, xã hội đều lâm vào tình trạng khủng hoảng, rối ren. Trong bối cảnh đó, tể tướng Hồ Quý Ly đã phế truất vua Trần Thiếu Đế, giành ngôi lập ra vương triều Hồ (1400 -1407).
Trước khi lên ngôi, từ mùa xuân năm 1397, Hồ Quý Ly đã cho xây đô thành mới ở An Tôn (Vĩnh Lộc - Thanh Hóa). Sau ba tháng công việc hoàn thành, Hồ Quý Ly đưa vua Trần Thuận Tông về đóng ở đây. Thành mới gọi là Tây Đô, Thăng Long lúc đó đổi là Đông đô. Tuy mất vị thế trung tâm chính trị cả nước nhưng Thăng Long - Đông Đô vẫn là trung tâm lớn nhất của đất nước, nơi tụ hội bốn phương và còn vì Tây Đô "ở nơi chật hẹp, hẻo lánh, cuối nước, đầu non", thiên về là một thành đô về quân sự nên khó có thể thay thế được vị thế của Đông Đô.
Từ năm 1010 đến năm 1400, Thăng Long đã trải qua nhiều biến động lớn của lịch sử dân tộc, gắn liền với sự hưng thịnh và thử thách của các vương triều Lý, Trần và bước chuyển sang thời Hồ. Không chỉ là trung tâm chính trị, quân sự, Thăng Long còn là nơi kết tinh trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần yêu nước của nhân dân Đại Việt. Qua những lần bị tàn phá bởi chiến tranh, Thăng Long vẫn đứng vững, khẳng định sức sống bền bỉ và vai trò không thể thay thế trong tiến trình lịch sử. Chính những giá trị lịch sử, văn hóa và truyền thống đấu tranh kiên cường ấy đã làm nên vị thế đặc biệt của Thăng Long – Hà Nội trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc./.
Ngói úp nóc mái, gắn lá đề trang trí chim phượng, thời Lý (thế kỷ XI - XII)
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
[1] Việt sử thông giám cương mục, tập 1, Sđd, tr. 524.