♦TS. Lê Thị Thu Hương
*Thăng Long thời Lý - Trần
Sau khi vua Lê Long Đĩnh mất, được sự tiến cử của Chi hậu Đào Cam Mộc, được các quần thần trong ủng hộ, năm 1009 Lý Công Uẩn lên ngôi Thiên tử. Với tầm nhìn của một nhà chiến lược thiên tài, Lý Công Uẩn đã chọn thành Đại La làm nơi định đô. Lý Thái Tổ xác định vị thế tối quan trọng của khu vực này: "... Ở trung tâm bờ cõi đất nước, được cái thế rồng cuộn, hổ ngồi; vị trí ở giữa bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc; tiện hình thế núi sông sau trước. Ở đó địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất phong phú tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta, chỗ ấy là nơi hơn cả, thật là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời"[1]. Mùa thu năm 1010, Lý Công Uẩn từ thành Hoa Lư, dời đô ra kinh phủ ở thành Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, "có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành là Thăng Long". Kể từ đó, Thăng Long (Hà Nội) chính thức trở thành kinh đô của quốc gia Đại Việt và Thăng Long đã giữ vai trò này gần như liên tục trong 10 thế kỷ qua.
Thăng Long thời Lý được quy hoạch rộng rãi, định hình rõ quy mô của một đô thị - kinh kỳ. Bên trong thành nội, Hoàng thành có 4 cửa mở ra 4 hướng vừa là bốn cửa thành vừa là bốn cửa chợ. Quanh Thăng Long và ở khu vực phía ngoài Hoàng thành dân cư, xóm làng đông đúc và vẫn còn nhiều rừng rậm, đầm lầy,...
Tượng đầu chim phượng và lá đề trang trí đôi chim phượng tìm thấy ở hố A2,A3 (Hoàng thành Thăng Long)
Năm 1054, Lý Thánh Tông lên ngôi, chính thức đặt quốc hiệu Đại Việt. Một trong những chính sách rất quan trọng thời Lý là tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang theo chính sách "ngụ binh ư nông" (gửi binh ở nhà nông), nhờ vậy nông nghiệp cũng có lực lượng sản xuất và khi đất nước có chiến tranh huy động cũng dễ dàng. Thế kỷ XI, nhân dân Thăng Long đã cùng cả nước đánh tan quân xâm lược Tống, bảo vệ kinh đô, bảo vệ đất nước. Trong số những người con của Thăng Long nổi bật là nhân vật Lý Thường Kiệt. Ông vốn tên là Ngô Tuấn, người phường Thái Hòa, huyện Thọ Xương. Từ nhỏ là người đã có chí hướng, đọc sách, nghiên cứu binh thư, luyện tập võ nghệ. Từ một chức quan thị vệ trong cung thời Lý Thái Tông, do tài năng và đức độ, ông đã trở thành một võ tướng mưu lược, giữ chức Thái Phó thời Lý Thánh Tông. Năm 1069, ông đã được cử làm tướng tiên phong cùng Lý Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Do có nhiều công lao ông được vua nhận làm con nuôi và đổi sang họ Lý (Lý Thường Kiệt). Trước âm mưu xâm lược của quân Tống, Lý Thường Kiệt đã dùng kế "tiên phát chế nhân" (ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc). Sau đó lại cùng nhân dân Thăng Long và nhân dân cả nước xây dựng phòng tuyến chặn giặc ở các lộ, các châu ở phía Bắc. Đồng thời ông còn đích thân kinh lý xuống phía Nam để tuyên cáo tin thắng trận, vẽ lại địa đồ ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh (thuộc Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay), chiêu mộ dân chúng đến ở và tăng cường lực lượng trấn giữ biên giới, vì vậy Chiêm Thành và Chân Lạp không dám động binh theo chiếu dụ của triều Tống.
Trong cuộc chiến đấu chống quân Tống (1075-1077) còn có những người con của Thăng Long, không kể xuất thân quyền quý, khi đất nước lâm nguy thì lao vào đánh giặc, sẵn sàng làm mọi việc để lo giữ gìn giang sơn, xã tắc. Đó là hai hoàng tử con vua: Hoằng Chân và Chiêu Văn đã anh dũng hy sinh khi đem quân chặn địch, không cho chúng tiến vào Thăng Long. Đó là Nguyên phi Ỷ Lan, người phụ nữ tài ba, chăm lo việc nước, chăm lo hậu phương để vua Lý đi đánh phương Nam. Khi đất nước yên bình thì người Thăng Long chăm lo sản xuất, khi đất nước nguy nan thì họ anh dũng quả cảm, sẵn sàng chiến đấu hy sinh.
Nhà Lý đóng đô ở Thăng Long từ 1010 đến 1226, qua 9 đời vua trong đó vua cuối cùng là bà Lý Chiêu Hoàng.
Nhà Trần được thành lập nhờ mưu kế của Thái sư Trần Thủ Độ, thông qua cuộc hôn nhân giữa Lý Chiêu Hoàng với Trần Cảnh. Năm 1226, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, bắt đầu thời kỳ nắm quyền của nhà Trần từ năm 1226 đến năm 1400.
Kinh thành Thăng Long đời Trần được quy hoạch lại thành hai khu riêng là cung Thánh Từ (cung Thượng Hoàng) và cung Quan Triều (cung Vua). Bên cạnh Thăng Long, Thiên Trường cũng được xây dựng thành kinh đô thứ hai, chủ yếu làm nơi ở và làm việc của Thái Thượng Hoàng.
(Còn tiếp...)