♦ TS. Lê Thị Thu Hương
(tiếp theo và hết)
Hà Nội thời kỳ độc lập đầu tiên (Khúc - Dương - Ngô - Đinh - Tiền Lê)
Vào cuối thế kỷ thứ IX, nhà Đường đổ nát, nội tình phương Bắc bị phân liệt thành cục diện "Ngũ đại thập quốc" (907 - 960), đây chính là điều kiện khách quan thuận lợi để nhân dân ta đứng lên đấu tranh giành lại nền độc lập.
Năm 905, Khúc Thừa Dụ - một hào trưởng vùng Hồng Châu (Hải Phòng), tài đức vẹn toàn, được sự ủng hộ của nhân dân đã đứng lên khởi nghĩa, kéo đại quân tiến vào thành Đại La, lật đổ chính quyền đô hộ của nhà Đường, tự xưng Tiết độ sứ. Trên thực tế, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền tự chủ. Nhà Đường đã buộc phải công nhận Khúc Thừa Dụ là Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ. Đầu năm 906, vua Đường phải phong thêm cho Khúc Thừa Dụ tước Đồng bình chương sự, coi giữ đất An Nam. Từ vùng đất Đại La, con trai Khúc Thừa Dụ là Khúc Hạo khi lên thay cha đã có nhiều cải cách cải thiện đời sống nhân dân, chăm lo xây dựng nền độc lập dân tộc. Sau Khúc Hạo là Khúc Thừa Mỹ lên nắm quyền. Đến năm 930 thành Đại La lại bị rơi vào tay quân Nam Hán. Trong khoảng thời gian từ năm 905 đến năm 930, tuy chưa trọn vẹn, nhưng họ Khúc đã đặt nền móng vững chắc cho cuộc đấu tranh tiến tới độc lập hoàn toàn cho đất nước.
Sau họ Khúc đến thời kỳ họ Dương. Dương Đình Nghệ người Thanh Hóa, vốn là một viên quan từ thời họ Khúc. Khi Khúc Thừa Mỹ bị quân Nam Hán bắt, ông đã ra sức chiêu mộ binh lính chuẩn bị chiến đấu chống quân Nam Hán. Năm 931, Dương Đình Nghệ từ châu Ái đưa quân ra chiếm được thành Đại La, xưng làm Tiết độ sứ. Đến năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết hại. Sau khi đoạt được chức Tiết độ sứ, Kiều Công Tiễn cầu cứu quân Nam Hán. Lúc đó, nhân dân cả nước nói chung và nhân dân Đại La nói riêng rất căm phẫn trước hành động này. Năm 938, Ngô Quyền (người làng Đường Lâm) kéo quân từ châu Ái ra hạ thành Đại La, tiêu diệt Kiều Công Tiễn. Sau đó ông tổ chức đóng cọc trên sông Bạch Đằng để chặn đánh quân xâm lược Nam Hán. Chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 là một chiến công hiển hách, một bước ngoặt vĩ đại của lịch sử Việt Nam. Sự kiện này chấm dứt vĩnh viễn ách đô hộ nghìn năm của phương Bắc, mở ra thời kỳ độc lập lâu dài cho dân tộc.
Năm 939, Ngô Quyền xưng vương, quyết định đóng đô ở Cổ Loa - kinh đô cũ của nước Âu Lạc. Cổ Loa lại trở thành kinh đô lần thứ hai sau thời kỳ An Dương Vương. Đến năm 944, Ngô Quyền mất, các thế lực địa phương nhân đó nổi dậy cát cứ, đất nước rơi vào loạn 12 sứ quân. Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, năm 968 Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư. Tuy không còn vị thế trung tâm đất nước như trước, nhưng Hà Nội vẫn là nơi có sức hút đối với các vùng lân cận, dân chúng tụ họp về đây đông vui và buôn bán tấp nập.
Như vậy, thời kỳ tiền Thăng Long (trước thế kỷ XI), đặc trưng nổi bật trong lịch sử của vùng đất này là: Đây là cái nôi của nền văn minh sông Hồng, là một trong những nơi định hình tính cách và lối sống của người Việt cổ. Vùng đất này sớm bước vào thời kỳ dựng nước và giữ nước, điển hình với thành Cổ Loa - kinh đô của nhà nước Âu Lạc.
Là vùng đất giữ vị trí trung tâm cai trị của chính quyền đô hộ phương Bắc, thành Đại La chịu ảnh hưởng ít nhiều của văn hóa Trung Hoa nhưng không bị Hán hóa mà đã Việt hóa các yếu tố văn hóa, kinh tế, xã hội, thậm chí cả con người (nhiều thủ lĩnh của các cuộc khởi nghĩa chống phong kiến phương Bắc vốn gốc là người phương Bắc).
Đây là nơi đầu tiên diễn ra các cuộc đấu tranh chống chế độ cai trị của các triều đại phong kiến phương Bắc, mở đầu cho cuộc đấu tranh lâu dài chống Bắc thuộc (khởi nghĩa Tây Vu Vương, khởi nghĩa Hai Bà Trưng) và luôn luôn là tâm điểm của các cuộc đấu tranh khi đã phát triển trên quy mô lớn và hướng đến mục tiêu đánh đổ toàn bộ chính quyền đô hộ (các cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ của nhà Đường)....
Đây là nơi khởi đầu cho ý tưởng đặt kinh đô, xây dựng nền tự chủ lâu dài cho đất nước (Lý Bí là người đầu tiên chọn đặt kinh đô Vạn Xuân trên vùng đất này) và cũng là địa bàn mà ngay từ khi sáng lập Vương triều Lý, Lý Công Uẩn đã nhận thấy nó hội đủ được các yếu tố "thiên thời", "điạ lợi", "nhân hòa" cho việc xây dựng kinh đô mãi mãi muôn đời cho đất nước./.