Hà Nội
Thứ Tư, 04/02/2026
16.4 oC

Hà Nội từ thời tiền sử đến thời Bắc thuộc

 

♦ TS. Lê Thị Thu Hương

Những dấu tích đầu tiên của con người trên vùng đất Hà Nội

         Hà Nội với vị trí địa lý nằm ở giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng, trong thời tiền sử, vùng đất Hà Nội đang trong quá trình hình thành. Những dấu tích gò đồi vùng Sóc Sơn, Đông Anh như những cầu nối giữa trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Cư dân nguyên thủy từ vùng núi và trung du đã tiến dần xuống vùng đất Hà Nội xưa, khai phá mở rộng địa bàn cư trú, định cư trên những doi đất cao, hình thành những xóm làng nhỏ ven các dòng sông cổ của mảnh đất Hà Nội xưa. Dấu vết đầu tiên về cuộc sống của con người tiền sử trên vùng đất Hà Nội là những công cụ từ thời kì Đá cũ, đó là những hòn cuội được ghè đẽo thô sơ, được phát hiện trên vùng đất gò Cổ Loa, có niên đại khoảng 2 vạn năm. Tập công cụ đá cuội ở Cổ Loa là dấu tích văn hóa tiền sử có niên đại sớm nhất trên mảnh đất Hà Nội.

                     Cuốc đá có vai (Kiều Thị )

                      Nguồn: Bảo tàng Hà Nội

 

 

Tượng người đàn ông Văn Điển (5.000 - 3.500 năm cách ngày nay)

Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia 

 

       Đầu thời đại đồ đồng, khoảng 4000 năm trước, con người liên tục chiếm cứ, khai phá vùng đất cao ven các sông quanh Hà Nội và để lại nhiều dấu tích. Thời kì văn hóa Phùng Nguyên, trên mảnh đất Hà Nội đã phát hiện được các di tích văn hóa Phùng Nguyên ở Văn Điển - Thanh Trì; Ngõa Long - Tây Tựu; Đồng Vông thuộc xã Đông Anh; Núi Xây, Yên Tàng (xã Trung Giã), di tích đàn Xã Tắc (phường Kim Liên)... Trong đó các di tích Đồng Vông và Văn Điển đã thu lượm được nhiều hiện vật phong phú và độc đáo, chủ yếu là đồ đá và mảnh gốm. 

      Đến thời kì Đá mới, hiện vật quan trọng nhất được phát hiện trong di tích Kiều Thị - Thường Tín là cuốc đá có vai, đây là công cụ lao động sản xuất tiêu biểu của thời Hậu kỳ Đá mới, thuộc văn hóa Phùng Nguyên, có niên đại 5.000 - 3.500 năm cách ngày nay.

       Đặc biệt tại di chỉ Văn Điển nay thuộc xã Thanh Trì đã phát hiện ra tượng người đàn ông bằng đá, bức tượng có kích thước rất nhỏ, không chỉ phản ánh óc thẩm mĩ của cư dân nơi đây mà còn thể hiện được địa vị của người đàn ông trong xã hội đương thời. Đến trung kì đồ đồng - văn hóa Đồng Đậu, đã phát hiện ở Hà Nội tại các di tích: lớp dưới Đình Tràng, Tiên Hội, Bãi Mèn, Xuân Kiều thuộc Đông Anh; hậu kì đồng thau - văn hóa Gò Mun, tại Hà Nội đã phát hiện một số di tích thuộc lớp giữa di chỉ Đình Tràng thuộc Đông Anh, lớp dưới các di chỉ Dương Xá, Trung Mầu - Gia Lâm... 

       Như vậy từ thời hậu kì đá cũ đến các giai đoạn phát triển của thời kì đồng thau (Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun), các di tích, hiện vật được phát hiện trên mảnh đất Hà Nội đã cho thấy cư dân nguyên thủy đã sớm định cư trên vùng đất này. Với dấu tích của văn hóa Sơn Vi hậu kì đá cũ, có thể hình dung người Sơn Vi chính là lớp người mở đất. Với những dấu tích của văn hóa Phùng Nguyên phát hiện trên vùng đất này còn cho thấy họ là lớp cư dân nông nghiệp đầu tiên khai phá vùng đất Hà Nội, trồng lúa nước, đánh cá, làm gốm, luyện kim. Các hiện vật phát hiện được cũng đã bước đầu cho thấy đây là một khu vực đông dân cư, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, cư dân bước đầu tạo nên những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần phong phú, đặt nền tảng cho vị thế là kinh sư của thời kì dựng nước và giữ nước sau này. Với những dấu tích của văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun, Hà Nội khẳng định được vị thế trước buổi bình minh của lịch sử. Đến văn hóa Đông Sơn, cách đây khoảng 2000 đến 2500 năm, trên mảnh đất Hà Nội đã phát hiện nhiều bộ sưu tập đồ đồng phong phú như trống đồng, lưỡi cày đồng, mũi tên đồng... qua một số di tích như Hữu Châu, Trung Mầu, Đa Tốn ở Gia Lâm; Đình Tràng, Đường Mây ở Đông Anh. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra ở Hà Nội có mộ thuyền cách ngày nay khoảng hơn 2000 năm, đó là mộ thuyền Sông Tô (khu vực Cầu Giấy) và mộ thuyền Nguyệt Áng (phát hiện tại làng Nguyệt Áng xã Đại Thanh). Đặc biệt tại vùng đất Hà Nội các nhà khảo cổ học đã phát hiện nhiều bộ sưu tập mang nét đặc trưng của văn hóa Đông Sơn, đó là trống Cổ Loa 1, trống Cổ Loa 2, trống đồng Ngọc Hà, lưỡi cày đồng Cổ Loa với nhiều loại (cánh rộng, cánh bầu, cánh hẹp). Chiếm đa số các hiện vật tìm thấy ở Cổ Loa là mũi tên đồng gồm hàng vạn chiếc tìm thấy ở Cầu Vực - Đông Anh. Từ các hiện vật tìm được trong lòng đất đã cho thấy trên vùng đất Hà Nội xưa cư dân từ khắp nơi đã hội tụ về đây gây dựng cuộc sống, đặt nền móng cho thời kì dựng nước.

Hà Nội trong thời kì dựng nước

        Thời kì nhà nước Văn Lang của các vua Hùng

Vào thế kỉ VII TCN, nhà nước Văn Lang của các vua Hùng được thành lập. Đại Việt sử lược chép: "Đến đời Trang Vương nhà Chu (696 - 681 TCN) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật quy phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu chất phác, chính sự dùng lối kết nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương"[1]. Thời Văn Lang, vùng đất Hà Nội tuy không là kinh đô nhưng giữ vị trí trọng yếu. Con người trên vùng đất Hà Nội vào đầu thiên niên kỉ I TCN đã tiến lên thời đại đồ sắt sớm với nhiều di tích thuộc văn hóa Đông Sơn. Đây chính là thời đại dựng nước trong lịch sử Việt Nam, thời kì hình thành nhà nước đầu tiên, đặt nền móng cho sự ra đời của quốc gia - dân tộc. Cùng với các di tích khảo cổ học, các truyền thuyết đi kèm cũng đã khẳng định thời kì nhà nước Văn Lang, con người trên vùng đất Hà Nội đã đóng góp tích cực vào cuộc đấu tranh chống thiên tai lũ lụt, chống giặc ngoại xâm như truyền thuyết về Sơn Tinh, Thủy Tinh; Phù Đổng Thiên vương (Thánh Gióng), đức Thánh Chèm Lý Ông Trọng, chuyện Rùa vàng trong Lĩnh Nam chích quái,... Từ thuở sơ khai đó, Hà Nội có hai trung tâm tín ngưỡng dân gian in đậm dấu ấn thời dựng nước là khu vực núi Ba Vì với tín ngưỡng thờ thánh Tản Viên và lễ hội Phù Đổng. Đây chính là mạch nguồn quan trọng định hình khí phách của con người Việt trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước. Cho đến nay, dựa trên việc xác định vị trí và phạm vi các bộ của nước Văn Lang thì đất Hà Nội thuộc phạm vi các bộ Tây Vu, Chu Diên và Mê Linh[2]. Cư dân vùng đất Hà Nội thời Văn Lang đông đúc hơn, sống chủ yếu vẫn bằng nghề nông nghiệp trồng lúa nước kèm theo nghề chài lưới. Nghệ thuật đúc đồng cũng đạt đến trình độ cao và bắt đầu bước vào thời kì đồ sắt với những dấu tích của văn hóa Đông Sơn được phát hiện trên vùng đất này. Câu chuyện Thánh Gióng vào đời Hùng Vương thứ 6 cũng phần nào xác nhận khi đó cư dân vùng đất này đã bước vào thời kỳ đồ sắt.

         Thời kỳ nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương.

        Vào năm 218 - 208 TCN, quân Tần do tướng Đồ Thư chỉ huy đem 50 vạn quân mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam và kéo vào xâm lược nước ta. Dưới sự lãnh đạo của Thục Phán, nhân dân Tây Âu và Lạc Việt đã chiến đấu anh dũng và chiến thắng quân Tần. Sau đó Thục Phán thay thế Hùng Vương, lập ra nước Âu Lạc (sự kết hợp giữa hai nhóm người Tây Âu và Lạc Việt), chuyển kinh đô từ Bạch Hạc - Phong Châu xuống Phong Khê (Cổ Loa - Đông Anh). Thục Phán lên ngôi tự xưng là An Dương Vương. Nhà nước Âu Lạc chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn (khoảng 30 năm), vì vậy gộp cả thời Văn Lang và Âu Lạc thành thời kì dựng nước. Trong thời kì nhà nước Âu Lạc, do yêu cầu bức thiết của cuộc đấu tranh chống ngoại xâm giữ nước nên nhân dân trên vùng đất Hà Nội đã có sự tiến bộ vượt bậc về kĩ thuật quân sự với việc đúc được nhiều mũi tên đồng và đặc biệt chế tạo ra loại nỏ bắn một phát được nhiều tên, thường gọi là nỏ Liên Châu, trong truyền thuyết thì gọi là "nỏ Thần". Đặc biệt thời kỳ này đã xây dựng thành công một công trình lớn, một kiến trúc quân sự nổi tiếng thể hiện nhiều mặt phát triển của nhà nước Âu Lạc đó là thành Cổ Loa. Đây vừa là một tòa thành chính trị nhưng cũng là tòa thành quân sự. Những năm đầu, cư dân vùng Hà Nội dưới sự lãnh đạo của An Dương Vương với vũ khí tốt, tòa thành kiên cố đã nhiều lần đánh lui sự xâm lược của Triệu Đà. Sau nhiều lần thất bại, thấy không thể tấn công bằng vũ lực, Triệu Đà đã dùng biện pháp mua chuộc các tướng giỏi, gây chia rẽ nội bộ chính quyền của An Dương Vương, cho con trai sang ở rể bên Âu Lạc để đánh cắp bí mật quân sự. An Dương Vương sai lầm, mất cảnh giác, không nhận ra sự nham hiểm của kẻ thù nên "nỏ thần vô ý trao tay giặc" để đến nỗi "cơ đồ đắm biến sâu". Từ những câu chuyện dân gian truyền lại đến những di tích tìm thấy qua khai quật trên vùng đất Cổ Loa đều cho thấy nhân dân Hà Nội thời Âu Lạc đã kiên cường chống giặc ngoại xâm bảo vệ quê hương mình. Qua các truyền thuyết dân gian ta còn thấy cả tài năng, sự sáng tạo của con người trên vùng đất Hà Nội xưa.

            Tóm lại, từ thời tiền sử đến thời kì dựng nước, vùng đất Hà Nội đã sớm trở thành nơi cư trú ổn định của cư dân Việt cổ. Những di tích khảo cổ phong phú qua các thời kì Đá cũ, Đá mới, đồ đồng và đồ sắt cho thấy con người nơi đây không chỉ biết khai phá thiên nhiên mà còn từng bước phát triển kinh tế, văn hóa và kỹ thuật. Qua các nền văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun đến Đông Sơn, Hà Nội dần hình thành một không gian cư dân đông đúc, giàu sức sáng tạo. Trong thời Văn Lang - Âu Lạc, Hà Nội giữ vai trò vùng đất trọng yếu, gắn liền với nhiều truyền thuyết và công trình lịch sử tiêu biểu như thành Cổ Loa. Chính những nền tảng đó đã tạo tiền đề quan trọng để Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của đất nước trong các giai đoạn lịch sử sau này./.




[1] Việt sử lược, Q.I -1a, Bản dịch, Nxb Văn Sử Địa, HN 1960, tr.14.

[2] Phan Huy Lê (Cb), 2012, Lịch sử Thăng Long - Hà Nội, tập 1, Sđd, tr.114.

 


Tài liệu tham khảo

1. Phan Huy Lê (Cb), 2012, Lịch sử Thăng Long - Hà Nội, tập 1, NXB HN, tr.114.

2. Việt sử lược, 1960, Q.I -1a, Bản dịch, Nxb Văn Sử Địa, tr.14.

3. Nguyễn Quang Ngọc (CB), 2018, Giáo trình Hà Nội học, NXB ĐHQG.

4. Nguồn tư liệu tại Không gian Hà Nội học, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội.

Bài viết cùng thể loại

Hanoi capital through courses of Vietnamese history (part 3)
Hanoi capital through courses of Vietnamese history (part 3) Hanoi resides in the heart of the Red River Delta, where people soon gathered and densely settled, and where the...
Hanoi capital through courses of Vietnamese history (part 2)
Hanoi capital through courses of Vietnamese history (part 2) Lý Công Uẩn founded the Lý dynasty in the Hoa Lư capital and decided to move the capital from Hoa Lư to the Đại La...
Hanoi capital through courses of Vietnamese history (part 1)
Hanoi capital through courses of Vietnamese history (part 1) The current territory of Hanoi is the cradle of the Red River civilization, in which Cổ Loa serves as the nucleus....
Thang Long in the Period from 1010 to 1400 (Part 2)
Thang Long in the Period from 1010 to 1400 (Part 2) During the Tran dynasty, the imperial capital of Thang Long repelled three invasions by the Mongol–Yuan forces.
Thang Long in the Period from 1010 to 1400 (Part 1)
Thang Long in the Period from 1010 to 1400 (Part 1) After the death of King Le Long Dinh, with the recommendation of Chi hau Dao Cam Moc and the support of the court...
Thủ đô Hà Nội trong tiến trình lịch sử Việt Nam ( phần 3)
Thủ đô Hà Nội trong tiến trình lịch sử Việt Nam ( phần 3) Địa bàn thành phố Hà Nội nằm ở trung tâm châu thổ Sông Hồng, nơi con người tụ cư sớm và đông đúc, nơi chứng kiến toàn...
Thủ đô Hà Nội trong tiến trình lịch sử Việt Nam (phần 2)
Thủ đô Hà Nội trong tiến trình lịch sử Việt Nam (phần 2) Lý Công Uẩn sáng lập Vương triều Lý tại kinh thành Hoa Lư và quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La vào năm...
Thăng Long từ năm 1400 đến đầu thế kỷ XIX
Thăng Long từ năm 1400 đến đầu thế kỷ XIX Trước âm mưu xâm lược của nhà Minh, triều đình nhà Hồ cũng tổ chức chuẩn bị kháng chiến nhưng đường lối kháng chiến...
Thăng Long từ năm 1010 đến năm 1400 (phần 2)
Thăng Long từ năm 1010 đến năm 1400 (phần 2) Thăng Long – Hà Nội là vùng đất có bề dày lịch sử lâu đời, gắn liền với sự hình thành và phát triển của quốc gia Đại...
Thăng Long từ năm 1010 đến năm 1400 (phần 1)
Thăng Long từ năm 1010 đến năm 1400 (phần 1) Thăng Long thời Lý được quy hoạch rộng rãi, định hình rõ quy mô của một đô thị - kinh kỳ. Bên trong thành nội, Hoàng...