Hà Nội
Thứ Tư, 04/02/2026
16.4 oC

Hà Nội trong hơn nghìn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, xây dựng nền tự chủ đầu tiên cho dân tộc (phần 1)

♦ TS. Lê Thị Thu Hương

       

         Năm 179 TCN, Triệu Đà đã chiếm được thành Cổ Loa của Thục An Dương Vương. Đây cũng là mốc khởi đầu nghìn năm Bắc thuộc đau thương trong lịch sử Việt Nam. Các triều đại phong kiến Trung Quốc từ Triệu, Hán, Lục Triều đến Tùy, Đường đã kế tiếp nhau cai trị nước ta. Từ đó Âu Lạc trở thành vùng đất phía Nam thuộc Trung Quốc. Đất Âu Lạc bị chia đi chia lại nhiều lần và vùng đất Hà Nội xưa về mặt hành chính cũng có sự thay đổi. Năm 106 TCN, nhà Hán đặt châu Giao Chỉ thống suất 7 quận lục địa, trong đó có quận Giao Chỉ nằm ở trung tâm, có vai trò quan trọng bậc nhất. Địa bàn của quận Giao Chỉ cơ bản bao trọn khu vực Bắc Bộ gồm cả miền đồng bằng châu thổ và rừng núi Đông Bắc. Theo sách Tiền Hán thư, Địa lý chí thì quận Giao Chỉ gồm có 10 huyện: Liên Lâu (Luy Lâu), An Định, Câu Lậu, Mê Linh, Khúc Dương, Bắc Đái, Kê Từ, Tây Vu, Long Biên, Chu Diên. Vùng đất Hà Nội thời thuộc Hán nằm trên phạm vi 4 huyện Mê Linh, Tây Vu, Chu Diên và Liên Lâu (Luy Lâu). Đây là những huyện ở vị trí trung tâm và quan trọng nhất của quận Giao Chỉ. Đối chiếu với bản đồ hành chính Hà Nội ngày nay thì toàn bộ vùng đất Hà Nội mở rộng từ ngày 01/8/2008 nằm trong quận Giao Chỉ dưới thời Tây Hán.

 

           Thành Cổ Loa  

        Cho đến trước thế kỷ V, trên vùng đất Hà Nội ngày nay, đã từng tồn tại những trụ sở của chính quyền cai trị phương Bắc như Mê Linh, hoặc gần những trụ sở của chính quyền cai trị như Long Biên, Luy Lâu (thuộc Bắc Ninh). Dù có đặt trụ sở ở vùng đất này hay không thì đây vẫn là nơi có tiềm năng kinh tế lớn, dân cư đông đúc, sớm có tinh thần yêu nước, quật khởi khiến các chính quyền đô hộ rất lo ngại. Mở đầu cho thời kỳ đấu tranh chống Bắc thuộc trên địa bàn Hà Nội là cuộc khởi nghĩa Tây Vu Vương vào năm 111 TCN. Cuộc khởi nghĩa này còn mở đầu toàn bộ trang sử chống Bắc thuộc oai hùng của dân tộc[1].

        Năm 40, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng diễn ra, chống lại ách thống trị nhà Đông Hán. Theo truyền thuyết thì trên vùng đất nay là Hà Nội đã có nhiều người theo Hai Bà đánh giặc, trở thành những tướng lĩnh xuất sắc, cụ thể như: "Ở các phường Đống Đa, Láng, Ô Chợ Dừa, Kim Liên, Văn Miếu - Quốc Tử Giám có ba anh em họ Đào; các xã Đông Anh, Thư Lâm, Phúc Thịnh, Thiên Lộc, Vĩnh Thanh có Đào Kỳ, Phương Dung, Đông Bằng, Thủy Hải, Đăng Giang, Khổng Chúng, Vĩnh Huy. Ở các xã Phù Đổng, Thuận An, Gia Lâm và Bát Tràng có Thành Công, Ông Đô, Ông Hiển, Ông Lang, Khỏa Ba Sơn, Nàng Quốc, Ông Đống, Ông Hựu. Huyện Thanh Trì có Nàng Tía (Trương Tử Nương), Triệu Tam Trinh. Các phường Tây Tựu, Phú Diễn, Xuân Đỉnh, Đông Ngạc, Thượng Cát, Từ Liêm, Tây Mỗ, Đại Mỗ và Xuân Phương có Quách Lãng, Tĩnh Lương, Bạch Lương, Vĩnh Gia, Ả Lã, Nàng Đê...."[2]. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng biểu trưng cho ý chí độc lập và tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm thức người dân Hà Nội với đền thờ Hai Bà Trưng tại phường Hai Bà Trưng và nhiều đền miếu thờ các tướng lĩnh nghĩa quân tại nội thành và ngoại thành Hà Nội.

        Thế kỷ thứ V, huyện Tống Bình thuộc quận Giao Chỉ được thành lập, huyện lị ở bờ Bắc sông Tô, tức vùng đất Hà Nội ngày nay. Sau đó huyện Tống Bình trở thành quận Tống Bình (gồm ba huyện, huyện Xương Quốc bờ bắc sông Hồng, đến 

tận Cổ Loa - Đông Anh ngày nay; huyện Nghĩa Hoài, Tuy Ninh vùng đất phía Nam sông Hồng thuộc nội thành Hà Nội ngày nay). Bắt đầu từ đây trụ sở của chính quyền cai trị dần dần dịch chuyển vào vùng đất nội thành Hà Nội ngày nay.

       Mùa xuân năm 542, Lý Bí đã phất cờ khởi nghĩa. Đây là sự kiện đánh dấu mốc son quan trọng trong lịch sử ngàn năm chống Bắc thuộc, không chỉ đánh bại các cuộc phản kích của quân Lương ở phía Bắc và cuộc xâm lấn của quân Chămpa ở phía Nam mà còn xây dựng một triều đình riêng, có quy mô đế vương. Theo Đại Việt sử ký toàn thư: "Mùa xuân, tháng giêng, vua nhân thắng giặc, tự xưng Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu, lập trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân, ý mong cho xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi hội triều. Lấy Triệu Túc làm Thái phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu đều làm tướng văn, tướng võ"[3]. Ngay từ đầu, tham gia cuộc khởi nghĩa đã có những người con trên đất Hà Nội như Phạm Tu (có đền thờ tại Thanh Liệt - Hà Nội), Lý Phục Man (quê ở Dương Hòa - Hà Nội ngày nay)... Lý Nam Đế đặt quốc hiệu là Vạn Xuân với ước nguyện "mong xã tắc truyền đến muôn đời", sau này tên nước của Lý Nam Đế còn lưu lại trong địa danh thành Vạn Xuân của Thăng Long thời Lý và tên đầm Vạn Xuân (hay Vạn Xoan) của Thanh Trì - Hà Nội. Lý Bí là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam nhận ra vị trí trung tâm bờ cõi của vùng đất ngã ba sông Nhị Hà - Tô Lịch và đã chọn khu vực cửa sông Tô Lịch thông với Nhị Hà (tức vùng đất Thăng Long - Hà Nội cổ) làm đất đóng đô. Đạo Phật từ Ấn Độ đã được truyền vào nước ta từ sớm mà trung tâm là Chùa Dâu (Luy Lâu - Thuận Thành - Bắc Ninh). Một phần do ảnh hưởng của đạo Phật và một phần ước nguyện mở đầu thời kỳ mới xây dựng đất nước độc lập nên Lý Bí đã cho xây dựng chùa Khai Quốc (Mở Nước), lúc đầu xây ở ngoài đê, sau chuyển vào trong, mà dấu tích ngày nay chính là chùa Trấn Quốc ở Hà Nội.

       Đầu thế kỷ thứ VII, nhà nước Vạn Xuân sụp đổ, miền đất ngã ba sông Tô - sông Hồng không còn là kinh đô của cả nước, nhưng không phải vì vậy mà vị trí trung tâm của nó mất đi. Các triều đại đô hộ phương Bắc, nhà Tùy, nhà Đường đều đóng trụ sở tại đây, thay vì đóng tại Luy Lâu, Long Biên như những triều đại trước. Năm 607, nhà Tùy chuyển trụ sở quận Giao Chỉ về Tống Bình (nội thành Hà Nội). Từ đây, vùng đất trung tâm nội thành Hà Nội ngày nay chính thức trở thành thủ phủ của chính quyền đô hộ phương Bắc. Đây cũng là sự kiện mở đầu cho quá trình hình thành đô thị với hệ thống thành lũy và thị dân tại vùng đất Hà Nội. Đặc biệt đến thời nhà Đường cai trị, trong suốt ba thế kỷ thống trị nước ta, nhà Đường đã không ngừng xây dựng, gia cố, sửa đắp thành lũy, trong đó đợt đắp thành lớn nhất là năm 866, Tiết độ sứ Cao Biền đã tổ chức đắp Đại La Thành, đây là tòa thành có quy mô lớn nhất được đắp trên miền trung tâm của Hà Nội. Một trong những mục đích củng cố và sửa đắp La Thành là để đối phó với các cuộc nổi dậy và tấn công của nhân dân cả nước trong đó đặc biệt là các cuộc nổi dậy của nhân dân Hà Nội xưa. Các cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ của nhà Đường đều có sự tham gia tích cực của nhân dân vùng đất Hà Nội. Tại vùng Đường Lâm, hào trưởng Phùng Hạp Khanh (cha của Phùng Hưng) đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (713 -722), xây dựng lực lượng, chuẩn bị tấn công vào thành Tống Bình. Truyền thuyết cho biết, trong đội quân của Phùng Hạp Khanh có sự tham gia của đông đảo nhân dân vùng Đường Lâm và những thành viên trong gia đình ông.

          Nửa sau thế kỷ thứ VIII, nhân lúc chính quyền trung ương nhà Đường ngày càng suy yếu, bọn quan lại đô hộ nước ta ra sức bóc lột nhân dân, đánh thuế nặng, lòng dân oán giận. Lợi dụng khi quân lính ở thành Tống Bình nổi dậy chống quan lại đô hộ, Phùng Hưng đã phát động một cuộc khởi nghĩa lớn chống lại ách đô hộ của nhà Đường. Năm 766, Phùng Hưng cùng em trai là Phùng Hải lãnh đạo nghĩa quân nổi dậy làm chủ Đường Lâm, trên đà thắng lợi kéo về thành Tống Bình, được nhân dân các vùng lân cận tham gia hưởng ứng. Ông tổ chức vây thành Tống Bình, viên quan đô hộ giữ thành lúc đó là Cao Chính Bình bị vây hãm lâu ngày, lo lắng quá đã phát bệnh mà chết. Phùng Hưng vào ở phủ thành, tổ chức việc cai trị được 7 năm thì mất, con là Phùng An lên thay, làm chủ thêm được 2 năm thì nhà Đường cử Triệu Xương sang làm Đô hộ An Nam. Triệu Xương dùng thủ đoạn mang lễ vật đến dụ Phùng An ra hàng. Năm 791, Phùng An đã hàng nhà Đường, cuộc khởi nghĩa thất bại.

          Tiếp sau khởi nghĩa của Phùng Hưng, vào năm 819, khi Dương Thanh cùng con là Dương Chí Liệt khởi nghĩa đánh chiếm thành Tống Bình, nhân dân trên vùng đất Hà Nội xưa đã tích cực hưởng ứng.

(Còn tiếp...)

 

 


[1] Phan Huy Lê (cb), 2012, Lịch sử Thăng Long - Hà Nội, tập 1, Sđd, tr.168. Tây Vu Vương là thủ lĩnh huyện Tây Vu, là dòng dõi của An Dương Vương. Sau khi Âu Lạc bị rơi vào tay nhà Triệu, Tây Vu Vương đã lấy thành Cổ Loa căn cứ lãnh đạo nhân dân nổi dậy khởi nghĩa nhằm giành lại độc lập nhưng đã bị thất bại.

[2] Lê Xuân Tùng, Bách khoa thư Hà Nội, tập 1, Sđd, tr.74.

[3] Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1 (2010), Sđd, tr.179.

Bài viết cùng thể loại

Hanoi capital through courses of Vietnamese history (part 3)
Hanoi capital through courses of Vietnamese history (part 3) Hanoi resides in the heart of the Red River Delta, where people soon gathered and densely settled, and where the...
Hanoi capital through courses of Vietnamese history (part 2)
Hanoi capital through courses of Vietnamese history (part 2) Lý Công Uẩn founded the Lý dynasty in the Hoa Lư capital and decided to move the capital from Hoa Lư to the Đại La...
Hanoi capital through courses of Vietnamese history (part 1)
Hanoi capital through courses of Vietnamese history (part 1) The current territory of Hanoi is the cradle of the Red River civilization, in which Cổ Loa serves as the nucleus....
Thang Long in the Period from 1010 to 1400 (Part 2)
Thang Long in the Period from 1010 to 1400 (Part 2) During the Tran dynasty, the imperial capital of Thang Long repelled three invasions by the Mongol–Yuan forces.
Thang Long in the Period from 1010 to 1400 (Part 1)
Thang Long in the Period from 1010 to 1400 (Part 1) After the death of King Le Long Dinh, with the recommendation of Chi hau Dao Cam Moc and the support of the court...
Thủ đô Hà Nội trong tiến trình lịch sử Việt Nam ( phần 3)
Thủ đô Hà Nội trong tiến trình lịch sử Việt Nam ( phần 3) Địa bàn thành phố Hà Nội nằm ở trung tâm châu thổ Sông Hồng, nơi con người tụ cư sớm và đông đúc, nơi chứng kiến toàn...
Thủ đô Hà Nội trong tiến trình lịch sử Việt Nam (phần 2)
Thủ đô Hà Nội trong tiến trình lịch sử Việt Nam (phần 2) Lý Công Uẩn sáng lập Vương triều Lý tại kinh thành Hoa Lư và quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La vào năm...
Thăng Long từ năm 1400 đến đầu thế kỷ XIX
Thăng Long từ năm 1400 đến đầu thế kỷ XIX Trước âm mưu xâm lược của nhà Minh, triều đình nhà Hồ cũng tổ chức chuẩn bị kháng chiến nhưng đường lối kháng chiến...
Thăng Long từ năm 1010 đến năm 1400 (phần 2)
Thăng Long từ năm 1010 đến năm 1400 (phần 2) Thăng Long – Hà Nội là vùng đất có bề dày lịch sử lâu đời, gắn liền với sự hình thành và phát triển của quốc gia Đại...
Thăng Long từ năm 1010 đến năm 1400 (phần 1)
Thăng Long từ năm 1010 đến năm 1400 (phần 1) Thăng Long thời Lý được quy hoạch rộng rãi, định hình rõ quy mô của một đô thị - kinh kỳ. Bên trong thành nội, Hoàng...