♦GS.TS. Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Quang Ngọc
Nguyên phi Ỷ Lan tên thật là Lê Thị Khiết (hay Lê Thị Yến), sinh năm 1044, mất năm 1117, quê ở làng Thổ Lỗi (sau đổi là Siêu Loại, nay thuộc xã Gia Lâm, thành phố Hà Nội). Bà được ví như "cô Tấm xứ Bắc" từ một thôn nữ trở thành Nguyên phi, nổi tiếng với tài trị nước, hai lần buông rèm nhiếp chính giúp vua giữ yên xã tắc, phát triển văn hóa Phật giáo và được tôn vinh là "Phật bà Quan Âm".
Cổng tam quan nhìn từ phía trong có lối kiến trúc độc đáo
Cuộc gặp gỡ của Hoàng Thái hậu Ỷ Lan với Hoàng đế Lý Thánh Tông
Sử cũ chép khá nhiều về cuộc gặp gỡ giữa Ỷ Lan với Hoàng đế Lý Thánh Tông, ghi chép của sách Đại Việt sử ký toàn thư là bộ Quốc sử đời Lê như sau: Lý Thánh Tông sinh năm Quý Hợi (1023) ở cung Long Đức phía ngoài ô Trường Quảng (Ô Chợ Dừa) là vị vua đời thứ 3 vương triều Lý, cũng là vị vua kiệt xuất bậc nhất không chỉ vương triều Lý mà toàn bộ lịch sử quân chủ Việt Nam. Ông đã 40 tuổi rồi mà vẫn chưa có con trai nối dõi. Ông tổ chức nhiều cuộc đi chơi khắp chùa quán để cầu tự. Năm ấy là năm Quý Mão (1063) ông xa giá đến hương Siêu Loại (Thổ Lỗi, Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội), con trai con gái đổ đến xem không ngớt, duy chỉ có một người con gái hái dâu cứ đứng nép trong bụi cỏ lan. Vua trông thấy gọi vào cung, được vua yêu, phong làm Ỷ Lan phu nhân. Tuy nhiên cũng đã mấy năm mà vẫn chưa có con. Vua sai Chi hậu Nội nhân Nguyễn Bông làm lễ cầu đảo ở chùa Thánh Chúa (trong khuôn viên của trường Đại học Sư phạm hiện nay). Nhà sư trụ trì chùa Thánh Chúa dạy cho Nguyễn Bông thuật đầu thai, thác hóa. Nguyễn Bông nghe theo và sau đó Ỷ Lan phu nhân có mang sinh ra Hoàng tử Càn Đức (tức vua Lý Nhân Tông). Việc bị phát giác, Nguyễn Bông đã bị đem ra chém ở trước cửa chùa Thánh Chúa[1].
Đôi rồng thời Lý phủ phục bên mạn sườn đồi thờ Nguyên Phi Ỷ Lan
Hai lần Nguyên phi Ỷ Lan thay vua nắm triều chính
Lần thứ nhất: Năm Kỷ Dậu (1069), Lý Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành đã giao toàn bộ việc triều chính cho Nguyên phi Ỷ Lan. Những trận giao chiến đầu tiên quân Lý đều thất bại, Lý Thánh Tông đành phải rút quân về đến châu Cư Liên. Về đến đây Lý Thánh Tông được tin ở kinh đô Thăng Long Nguyên phi “giúp việc nội trị, lòng dân cảm hóa hòa hợp, trong cõi vững vàng, tôn sùng Phật giáo, dân gọi là bà Quan Âm”. Lý Thánh Tông rất mừng, cho rằng “Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao?”. Ông quyết định kéo đại quân quay trở lại quyết chiến và lần này quân Lý đại thắng bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ và 5 vạn người đem về Thăng Long. Sau Chế Củ xin dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (thuộc đất tỉnh Quảng Trị ngày nay)[2].
Lần thứ hai: Năm Nhâm Tý (1072) vua Lý Thánh Tông băng hà, Hoàng tử Lý Càn Đức mới 6 tuổi lên ngôi Hoàng đế, Thái hậu Linh Nhân buông rèm nhiếp chính. Lý Nhân Tông là vị vua ở ngôi lâu nhất trong lịch sử quân chủ Việt Nam (56 năm, từ năm 1072 đến năm 1127) là vị vua “sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, nước lớn sợ, nước nhỏ mến, thần giúp người theo, thông âm luật chế ca nhạc, dân được giàu đông, mình được thái bình, là vua giỏi của triều Lý”[3]. Thành công của Lý Nhân Tông, của vương triều và đất nước hơn 50 năm cuối thế kỷ XI, đầu thế kỷ XII, có đóng góp vô cùng đặc biệt của Nguyên phi Ỷ Lan và bên cạnh Ỷ Lan là Lý Đạo Thành, Lý Thường Kiệt, Lê Văn Thịnh…
(Còn tiếp...)
[1] Đại Việt Sử ký toàn thư (1993), t.1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.273.
[2] Đại Việt Sử ký toàn thư (1993), t.1, Sđd, tr.274-275.
[3] Đại Việt Sử ký toàn thư (1993), t.1, Sđd, tr.276.