Hanoi
Wednesday, 04/02/2026
16.4 oC

Ngô Quyền - Vị tổ trung hưng đất nước

♦GS.TS. Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Quang Ngọc

Ngô Quyền sinh ngày 12 tháng 3 năm Mậu Ngọ (6-4-898) tại làng Đường Lâm (nay là phường Sơn Tây, thành phố Hà Nội) trong một gia đình “đời đời là nhà quý tộc” ở làng quê giàu truyền thống yêu nước chống giặc phương Bắc. Lớn lên trong lúc họ Khúc đang vươn dậy mạnh mẽ xây dựng một chính quyền tự chủ, được tắm gội trong bầu không khí mới của đất nước, tiếp nối chí của cha ông, Ngô Quyền đã đứng ra vận động tập hợp lực lượng và dần dần trở thành người có thế lực lớn ở quê hương Đường Lâm[1].

Năm Quý Mùi (923), Khúc Thừa Mỹ bị đánh bại, Nam Hán lập lại ách thống trị ở thành Đại La; Dương Đình Nghệ xây dựng vùng Ái Châu (Thanh Hóa) thành căn cứ chống Nam Hán; Ngô Quyền theo về Dương Đình Nghệ và trở thành tướng thân tín của họ Dương.

Năm Tân Mão (931), Dương Đình Nghệ cử Ngô Quyền làm tướng tiên phong, cùng ông tiến ra Giao Châu đánh đuổi quân Nam Hán, khôi phục quyền tự chủ. Dẹp xong giặc ngoại xâm, Dương Đình Nghệ lên nắm chính quyền và vẫn tự xưng là Tiết độ sứ để giữ quan hệ hòa hiếu với phong kiến phương Bắc. Ông đóng đô ở thành Đại La, cắt đặt các tướng lĩnh thân tín nắm giữ các vùng trọng yếu. Ngô Quyền được giao trấn giữ vùng châu Ái quê hương ông. Những năm tháng phụng sự chính quyền tự chủ của họ Dương là những năm tháng Ngô Quyền có điều kiện thi thố tài năng, trở thành một danh tướng kiệt xuất, được nhân dân kính mến, quân sĩ khâm phục.

Năm Đinh Dậu (937), tại thành Đại La, Dương Đình Nghệ bị viên thuộc tướng là Kiều Công Tiễn giết chết để đoạt chức Tiết độ sứ. Cuối tháng 10 năm Mậu Tuất (938), nhận thấy nguy cơ xâm lược của quân Nam Hán đã đến gần, Ngô Quyền từ vùng châu Ái đem quân ra Bắc đánh Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn cho người chạy sang cầu cứu nhà Nam Hán. Nền độc lập của dân tộc vừa mới được phục hồi thì lại bị đe doạ nghiêm trọng cả từ bên ngoài lẫn bên trong. Đất nước lại bước vào thử thách mới hết sức cam go, ác liệt. Trước yêu cầu của lịch sử, Ngô Quyền, người đại diện chân chính của dân tộc lúc đó đã thực sự trở thành trung tâm đoàn kết mọi lực lượng kháng chiến, trung tâm quy tụ mọi nguồn sức mạnh của dân tộc. Ông kéo đại quân ra cửa biển Bạch Đằng đón đánh quân Nam Hán. Cuộc chiến đấu diễn ra và kết thúc chỉ trong vòng một con nước triều, nghĩa là chỉ trong một ngày, đạo quân xâm lược với đoàn thuyền chiến lớn vừa mới tiến vào địa đầu sông nước của Tổ quốc thì đã bị tiêu diệt hoàn toàn. 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp dưới bút danh Hồng Nam nhận định: “Chiến thắng Bạch Đằng cuối năm 938 được ghi vào sử sách như một võ công hiển hách, đời đời bất diệt, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại, cắm một cái mốc lớn của lịch sử, chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ hơn nghìn năm của các triều đại phong kiến Trung Quốc, mở ra một kỷ nguyên mới, độc lập lâu dài và phát triển rực rỡ của đất nước[2].

Chiến thắng Bạch Đằng ngày 7 tháng 12 năm Mậu Tuất (31-12-938)[3] là trận đánh thần tốc với hiệu quả cao vào bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, một vũ công hiển hách đã kết thúc vĩnh viễn hiểm họa nô dịch và đồng hoá kéo dài hơn nghìn năm của kẻ thù phư­ơng Bắc, mở ra một kỷ nguyên độc lập lâu dài và phục h­ưng toàn diện của đất nước. Sau ngày chiến thắng, Ngô Quyền kéo đại quân về mở nước, xưng vương, đóng đô ở Loa Thành (Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội), cắt đứt mọi quan hệ lệ thuộc đối với nư­ớc ngoài, xây dựng một chính quyền theo mô hình quân chủ tập trung, một vương quốc thật sự độc lập.

Lê Văn Hưu thế kỷ XIII, nhà sử học khai sáng nền sử học Đại Việt thời Trần và được tôn vinh là Thủy tổ của nền sử học Việt Nam, xác nhận: “Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một lần nổi giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi đế, đổi niên hiệu, nhưng chính thống của nước Việt ta ngõ hầu đã nối lại được[4].

Ngô Sĩ Liên thế kỷ XV khẳng định: “Tiền Ngô [Vương] nổi lên không chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của bậc đế vương[5]. Trong bộ sách Đại Việt sử ký toàn thư, bộ Quốc sử đời Lê do ông chủ trì biên soạn đã xếp Ngô Quyền là vị vua đứng ở vị trí cao nhất của các vua Đại Việt: “Vua mưu tài đánh giỏi, làm nên công tái tạo, đứng đầu các vua[6].

Ngô Thì Sĩ thế kỷ XVIII đã tổng kết toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Ngô Quyền trong một câu rất chuẩn xác: “Vua diệt giặc trong nước để trả thù cho chúa, đuổi giặc ngoại xâm để cứu nạn cho nước, xây dựng quốc gia, khôi phục quốc thống, công nghiệp thực là vĩ đại[7].

Ngày 18 tháng 1 năm Giáp Thìn (14 - 2 - 944)[8], Ngô Quyền qua đời, sự nghiệp mở nước, xưng vương của người anh hùng tuy mới được chưa đầy 6 năm, còn nhiều dang dở, nhưng trên đại thể vẫn nhận ra được vương triều Ngô là “Nhà nước độc lập của một quốc gia có đầy đủ chủ quyền, xét trên ý thức tư tưởng cũng như trong hoạt động thực tế[9].

Nhà yêu nước kiệt xuất đầu thế kỷ XX Phan Bội Châu đã hoàn toàn đúng khi tôn vinh Ngô Quyền là vị “Tổ trung hưng nước ta”, chỉ đứng sau “Thủy tổ dựng nước là Hùng Vương”, vì theo ông “tất giặc ngoài mà đuổi đi được, quyền thống của nước bị đứt mà biết nối lại được thì không ai hơn được Ngô Vương Quyền[10].

Năm 1941 trở về Cao Bằng viết sách Lịch sử nước ta để chuẩn bị lực lượng cho cuộc Cách mạng tháng Tám, Bác Hồ ca ngợi người anh hùng đất Đường Lâm Ngô Quyền đã “Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên tầm cao lịch sử thời đại Hồ Chí Minh nhìn lại, nhiều lần khẳng định chiến thắng Bạch Đằng năm 938 và sự nghiệp mở nước xưng vương của người anh hùng dân tộc Ngô Quyền đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Lăng Ngô Quyền ở Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội)
 
        Sự kiện Ngô Quyền dựng nước, xưng vương, định đô Cổ Loa là chung đúc của lịch sử nghìn năm chống Bắc thuộc của cả dân tộc, là bước tiếp nối và nâng tầm trận chung kết lịch sử toàn thắng ở Bạch Đằng, đánh dấu một bước tiến rất dài, rất căn bản của lịch sử Việt Nam. Ngô Quyền đời đời được tôn vinh là Anh hùng Giải phóng dân tộc vĩ đại, vị Tổ Trung hưng của nước Việt Nam ta.Từ Lê Văn Hưu (cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV) đến Ngô Sĩ Liên (thế kỷ XV), Ngô Thì Sĩ (thế kỷ XVIII), Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phan Huy Lê (thế kỷ XX) và hầu hết các nhà Sử học cả trong nước và trên thế giới hiện nay đều chung một nhận định như vậy./.



[1] Có một số tác giả đã từng cho rằng Đường Lâm quê hương của Ngô Quyền có thể ở Hà Tĩnh hay ở Thanh Hóa. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho đến nay có đủ cơ sở khoa học để khẳng định Đường Lâm (phường Sơn Tây, thành phố Hà Nội) là quê hương của Ngô Quyền, nơi ông sinh ra, lớn lên, trở thành người có uy tín, danh vọng trước khi vào Thanh Hóa làm nha tướng cho Dương Đình Nghệ.

[2] Hồng Nam, Hồng Lĩnh (chủ biên) (1984), Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.204.

[3] Tất cả các nguồn tư liệu thư tịch cổ đều chép thống nhất Ngô Quyền chỉ huy đánh tan quân Nam Hán ở cửa biển Bạch Đằng vào một ngày mùa đông tháng 12 năm Mậu Tuất. Riêng Ngọc phả Lý Minh, Lý Bảo, Lý Khả ở Hoàng Pha (Thủy Nguyên, Hải Phòng) cho biết cụ thể là trận Bạch Đằng của Ngô Quyền diễn ra trong ngày 7 tháng Chạp (31-12-938).

[4] Đại Việt sử ký toàn thư (1993), Sđd, t.1, tr.204-205.

[5] Đại Việt sử ký toàn thư (1993), Sđd, t.1, tr.205.

[6] Đại Việt sử ký toàn thư (1993), Sđd, t.1, tr.204. Nguyên văn: “Vương thiện mưu thiện chiến, tái tạo chi công dĩ thành, vi chư vương chi quán” (Ngoại kỷ Toàn thư, quyển V, tờ 20b).

[7] Đại Việt sử ký tiền biên (1997), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.141.

[8] Sách Đại Việt sử ký toàn thư chỉ chép: “Giáp Thìn năm thứ 6 (944)… Vua mất” (Đại Việt sử ký toàn thư (1993), t.1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.204). Thần tích đền Gia Viên cho biết cụ thể là ông mất ngày 18 tháng 1 năm Giáp Thìn (14-2-944).

[9] Phan Huy Lê (2011), Tìm về cội nguồn, Nxb. Thế giới, tr.700.

[10] Phan Bội Châu (1962), Việt Nam quốc sử khảo, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr.21-25.

 

Bài viết cùng thể loại

Danh nhân Hà Nội được UNESSCO vinh danh
Danh nhân Hà Nội được UNESSCO vinh danh Trên nền tảng truyền thống lâu đời đó, Hà Nội cũng là nơi gắn bó mật thiết với những danh nhân có tầm ảnh hưởng vượt...
Giới thiệu khái quát về danh nhân Hà Nội
Giới thiệu khái quát về danh nhân Hà Nội Trải qua hơn một nghìn năm lịch sử, Hà Nội – Thăng Long xưa – không chỉ là trung tâm chính trị của đất nước mà còn là...
Nguyên phi Ỷ Lan với Vương triều Lý trên đất Thăng Long (phần 1)
Nguyên phi Ỷ Lan với Vương triều Lý trên đất Thăng Long (phần 1) Nguyên Phi ỷ Lan tên thật là Lê Thị Khiết (hay Lê Thị Yến), sinh năm 1044, quê ở làng Thổ Lỗi (sau đổi là Siêu...
Nguyên phi Ỷ Lan với Vương triều Lý trên đất Thăng Long (phần 2)
Nguyên phi Ỷ Lan với Vương triều Lý trên đất Thăng Long (phần 2) Vương triều Lý và quốc gia Đại Việt cuối thế kỷ XI, đầu thế kỷ XII (dưới thời vua Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông) đã...
Hanoi personalities honored by UNESCO
Hanoi personalities honored by UNESCO For centuries, Hanoi, formerly known as Thang Long, has been regarded as a sacred land with extraordinary people,...
Ngo Quyen – The Great Restorer of the Nation
Ngo Quyen – The Great Restorer of the Nation Ngo Quyen was born on April 6, 898 (the 12th day of the 3rd lunar month, Year of Mậu Ngọ) in Duong Lam village...
A General Introduction to Hanoi’s Eminent Figures
A General Introduction to Hanoi’s Eminent Figures Over more than a thousand years of history, present-day Ha Noi - formerly Thang Long - has been not only the nation’s...
Imperial Consort Y Lan and the Ly Dynasty in Thang Long (Part 1)
Imperial Consort Y Lan and the Ly Dynasty in Thang Long (Part 1) Imperial Consort Y Lan, whose real name was Le Thi Khiet (also recorded as Le Thi Yen), was born in 1044 and died in...
Imperial Consort Y Lan and the Ly Dynasty in Thang Long (Part 2)
Imperial Consort Y Lan and the Ly Dynasty in Thang Long (Part 2) The Ly dynasty and the Dai Viet state in the late 11th and early 12th centuries (under Kings Ly Thanh Tong and Ly...