Hà Nội
Thứ Tư, 04/02/2026
16.4 oC

Văn chương - Nghệ thuật về Hà Nội qua thơ, ca dao, tục ngữ

♦TS. Trần Quốc Việt

 

Hà Nội không chỉ được nhớ bằng phố phường hay di tích, mà bằng lời ăn tiếng nói, câu ca, vần thơ đã thấm sâu vào đời sống qua nhiều thế hệ. Từ ca dao, tục ngữ đến thơ trung đại và thơ hiện đại, văn chương lưu giữ một Hà Nội sống động bằng ký ức và cảm xúc, nơi thành phố không được trình bày như một toàn cảnh cần mô tả, mà như một không gian đã được sống cùng, được gọi tên và được ghi nhớ bằng ngôn từ. Đi qua những lớp chữ ấy là đi qua các cách Hà Nội hiện diện trong tâm thức người Việt.

         Trong văn chương Việt Nam, đặc biệt ở những hình thức ngôn từ ngắn và có khả năng truyền miệng, Hà Nội hiện lên không phải như một đô thị cụ thể về mặt địa lý, mà như một môi trường văn hóa. Ca dao, tục ngữ và thơ không dựng lại hình ảnh thành phố một cách đầy đủ, mà giữ lại những yếu tố đủ bền để đi cùng đời sống: nếp ứng xử, cảm thức lịch sử và trải nghiệm đô thị đã trở thành ký ức.

        Hà Nội trong ca dao, tục ngữ: chuẩn mực sống được truyền bằng lời

Trong ca dao và tục ngữ, Hà Nội xuất hiện trước hết như một không gian xã hội đã quen thuộc, nơi con người sống giữa ánh nhìn của nhau và vì thế phải điều chỉnh hành vi của mình. Những tên gọi như Kẻ Chợ, Tràng An không vận hành như địa danh thuần túy, mà như ký hiệu của một hệ giá trị. Câu ca:

“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”

là biểu hiện tiêu biểu nhất cho cách Hà Nội được thể hiện trong ca dao. Ở đây, “thanh lịch” không phải là phẩm chất tự nhiên, mà là một kỳ vọng xã hội gắn với danh xưng. Ngôn từ không phản ánh hiện thực một cách thụ động, mà tham gia trực tiếp vào việc tạo ra hiện thực bằng sự lặp lại của chuẩn mực, khiến nó trở thành “nếp” sống.

        Cùng mạch ấy, tục ngữ “Ăn Bắc, mặc Kinh” xác nhận vai trò trung tâm của đất kinh kỳ trong việc định hình phong hóa và thẩm mỹ. Hà Nội được cảm nhận như nơi đặt ra mẫu mực về cách ăn ở và cách xuất hiện trước cộng đồng, nơi đời sống thường nhật đã đạt đến độ tinh tế đủ để trở thành khuôn mẫu.

        Cảm giác quen thuộc với Hà Nội còn được ghi lại trong câu ca:

“Rủ nhau chơi khắp Long Thành,

Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai.”

         Giá trị của câu ca không nằm ở độ chính xác địa lý, mà ở chữ “rành rành”. Hà Nội được nhớ như một đô thị đã được nội hóa vào thói quen sống, nơi cư dân có thể đi lại, gọi tên và ghi nhớ bằng kinh nghiệm thường ngày. Thành phố vì thế hiện lên như một không gian có thể sống cùng lâu dài, ổn định trong ký ức, dù thực tế luôn vận động. Những gì ca dao và tục ngữ lưu giữ đối ứng với một đời sống đô thị đã đạt đến mức tinh vi trong sinh hoạt và thưởng ngoạn, như các ghi chép trong Tang thương ngẫu lục từng phản ánh.

 

Ảnh tư liệu: Hà Nội đầu thế kỷ XX (Léon Busy).

        Hà Nội trong thơ cổ: ký ức văn hiến và ý thức hoài cổ

      Khi bước vào thơ trung đại, Hà Nội được nhìn trong mối quan hệ với thời gian. Thành phố không còn hiện ra như một không gian sinh hoạt đang vận hành, mà như một ký ức văn hiến. Tác phẩm tiêu biểu nhất là "Thăng Long thành hoài cổ" của Bà Huyện Thanh Quan, nơi Hà Nội hiện lên qua dấu tích phai mờ của quá khứ:

“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.”

        Cảnh vật gợi ra sự đối lập giữa huy hoàng đã qua và thực tại lặng lẽ, khiến Hà Nội mang dáng vẻ trầm mặc. Hoài cổ ở đây không phải là than vãn cá nhân, mà là ý thức lịch sử về thăng trầm của một vùng đất văn hiến, về khoảng cách giữa quyền lực một thời và đời sống thường nhật.

        Cùng mạch cảm thức ấy, "Long Thành cầm giả ca" của Nguyễn Du khắc họa Hà Nội qua con người và nghệ thuật. Hình ảnh người ca nữ đất Long Thành và tiếng đàn năm cũ cho thấy một kinh kỳ từng rất tinh tế, nơi tài hoa nghệ thuật đạt đến độ chín, nhưng đồng thời cũng phơi bày sự mong manh của phận người trong dòng chảy dâu bể. Hà Nội trong thơ cổ vì thế không hiện ra bằng phố phường, mà bằng ký ức văn hóa gắn với hồi cố và mất mát.

       Hà Nội trong thơ hiện đại: trải nghiệm lịch sử và ký ức cá nhân

      Sang thế kỷ XX, thơ ca ghi nhận Hà Nội bằng nhịp điệu của trải nghiệm trực tiếp. Trong "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi, Hà Nội hiện lên qua mùa thu:

“Sáng mát trong như sáng năm xưa,

Gió thổi mùa thu hương cốm mới.”

      Những hình ảnh cụ thể ấy vừa mang tính cảm giác, vừa trở thành biểu tượng của ký ức tập thể. Hà Nội không đứng ngoài lịch sử, mà gắn liền với chịu đựng và ý chí chung, với một thời đoạn mà đời sống cá nhân hòa vào vận mệnh dân tộc.

      Sau chiến tranh, thơ về Hà Nội chuyển giọng sang ký ức đô thị riêng tư. "Em ơi, Hà Nội phố" của Phan Vũ giữ lại thành phố bằng những chi tiết tưởng như vụn vặt:

“Ta còn em mùi hoàng lan,

Ta còn em mùi hoa sữa.”

      Hà Nội ở đây tồn tại bằng những mảnh cảm giác nhỏ bé: mùi hương, mái nhà, con phố. Không gian đô thị được lưu giữ trong ký ức cá nhân như một phần của đời sống cảm xúc, tạo nên một hình ảnh Hà Nội thân mật và bền bỉ.

 

Ảnh tư liệu: .Nguyễn Đình Thi và trích đoạn bài thơ Đất nước (nguồn: báo Dân Việt)

      Nhìn xuyên suốt từ ca dao, tục ngữ đến thơ trung đại và thơ hiện đại, có thể thấy Hà Nội trong văn chương Việt Nam được duy trì không phải bằng những bản mô tả toàn diện, mà bằng sự lặp lại của các hình thức ngôn từ ngắn mang tải văn hóa cao. Ca dao và tục ngữ dựng nên Hà Nội của chuẩn mực sống; thơ cổ giữ Hà Nội trong chiều sâu văn hiến và hồi cố; thơ hiện đại ghi lại Hà Nội bằng trải nghiệm lịch sử và ký ức cá nhân. Những lớp ngôn từ ấy chồng lên nhau, kiến tạo nên một địa lý cảm xúc và một hệ quy chiếu thẩm mỹ, khiến Hà Nội không chỉ được nhìn thấy, mà được nhớ và được sống cùng qua nhiều thế hệ./.

 

Tài liệu tham khảo

Bà Huyện Thanh Quan. (1993). Thơ Bà Huyện Thanh Quan. Hà Nội: NXB Giáo dục.

Nguyễn Du. (2002). Long Thành cầm giả ca. In Toàn tập Nguyễn Du. Hà Nội: NXB Văn Học.

Nguyễn Đình Thi. (1960). Đất nước. Hà Nội: NXB Văn Học.

Nguyễn Văn Ngọc. (2005, tái bản từ 1928). Ca dao tục ngữ Việt Nam. Hà Nội: NXB Văn Học.

Phạm Đình Hổ & Nguyễn Án. (2005, tái bản). Tang thương ngẫu lục. Hà Nội: NXB Văn Học.

Phan Vũ. (2009). Em ơi, Hà Nội phố. Hà Nội: NXB Văn Học.

Vũ Ngọc Phan. (2000). Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam. Hà Nội: NXB Văn Học.