Hà Nội
Thứ Tư, 04/02/2026
16.4 oC

Hà Nội trong văn xuôi hiện đại: Từ hoài niệm đến đương đại

 ♦TS. Lường Thế Anh

Hà Nội - Thủ đô nghìn năm văn hiến từ lâu đã trở thành đề tài hấp dẫn, niềm cảm hứng của văn học nghệ thuật nước nhà nói chung và văn xuôi hiện đại viết về Hà Nội nói riêng. Các cây bút qua nhiều thời kỳ, với nhiều thể loại đã khắc họa, phản ánh về một Hà Nội với những biến đổi của không gian đô thị, những thăng trầm của lịch sử, nơi con người, lịch sử, văn hóa, đời sống, xã hội Thủ đô hiện lên đa diện, đa sắc. Trong tiến trình đó, văn xuôi hiện đại về Hà Nội phản ánh nhiều bối cảnh lịch sử từ xã hội thuộc địa, nửa phong kiến trước Cách mạng Tháng Tám 1945, các cuộc kháng chiến của dân tộc, thời hậu chiến, bao cấp, đến xã hội hiện đại với sự đô thị hóa và hội nhập. Ở mỗi giai đoạn, hình ảnh Hà Nội được thể hiện bởi những hệ giá trị thẩm mỹ khác nhau, từ trữ tình, phê phán, hoài niệm, hay phản ánh cuộc sống của đô thị đương đại. Qua những trang văn đó, Hà Nội hiện lên không chỉ như một không gian địa lý mà còn là không gian ký ức, không gian tâm thức, nơi cảm xúc về một Hà Nội mến yêu.

Dưới góc nhìn nghiên cứu, các tác phẩm văn xuôi hiện đại về Hà Nội không chỉ mang giá trị nghệ thuật văn chương mà còn là nguồn tư liệu quan trọng cho các ngành khoa học xã hội và nhân văn, các ngành sử học, văn hóa học, dân tộc học hay đô thị học. Những trang văn ấy là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, góp phần vào quá trình hình thành tri thức về không gian “Hà Nội học” với những diện mạo văn hóa, xã hội và con người Hà Nội.

 

1. Văn xuôi viết về Hà Nội trước 1945: trữ tình và hiện thực  

Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám 1945 được xem là thời kỳ định hình của văn xuôi hiện đại viết về Hà Nội, dưới ảnh hưởng của văn minh phương Tây. Văn xuôi thời kỳ này phản ánh diện mạo đô thị, con người và đời sống văn hóa trong sự giao thoa Đông-Tây, từ vẻ thanh lịch, thú chơi của Tràng An đến những mâu thuẫn xã hội mới với lối sống Âu hóa.

Tác giả đầu tiên phải kể đến Vũ Trọng Phụng nhà văn tiêu biểu của dòng văn học hiện thực phê phán qua các tác phẩm Số đỏ (1936), Giông tố (1936), Làm đĩ (1936) hay Kỹ nghệ lấy Tây (1934), với góc nhìn của một cây bút sắc lạnh, nhìn thẳng vào mặt trái của đô thị thuộc địa nửa thực dân phong kiến, ông phơi bày sự tha hóa đạo đức, đằng sau sự hào nhoáng đó là mặt trái về các tệ nạn của xã hội chạy theo đồng tiền. Bằng giọng điệu trào phúng, Hà Nội được tái hiện nơi mâu thuẫn và xung đột lợi ích của đời sống đô thị với lối sống Âu hóa nửa mùa thời kì thuộc địa.

Ở một thái cực khác Thạch Lam sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, ông có tình yêu sâu sắc về Hà Nội, được thể hiện rõ nét qua tập tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường (1943), tác giả đã tái hiện hình ảnh Hà Nội từ những chi tiết đời thường, gần gũi như phố xá, hàng quà, tiếng rao ở một đô thị cổ, trong một không gian thơ mộng, trữ tình. Hà Nội qua ngòi bút của ông không ồn ào, vội vã mà với nhịp sống chậm rãi, giàu bản sắc văn hóa, gắn với nếp sống tinh tế, lối sống thanh lịch của người Tràng An. Các tập truyện ngắn khác Gió đầu mùa (1939) và Nắng trong vườn (1940), Thạch Lam tiếp tục khám phá đời sống của những con người bình dị, phản ánh chiều sâu tâm lí, nhân văn, thể hiện sự cảm thông với những cảnh nghèo, từ những khu phố nghèo, những con người mưu sinh nơi đô thị thuộc địa.

 Cùng thời kỳ, Nguyễn Tuân tiếp cận Hà Nội một góc nhìn khác với tập tùy bút Vang bóng một thời (1940), ông khắc họa Hà Nội như một không gian văn hóa biểu tượng, nơi lưu giữ các giá trị tinh hoa dân tộc. Hà Nội hiện lên qua những thú chơi tao nhã, ẩm thực tinh tế, kiến trúc, thư pháp và lối ứng xử của tầng lớp trí thức. Nguyễn Tuân bằng chất tài hoa, uyên bác, vừa hoài niệm về một Tràng An cổ kính, vừa trăn trở trước nguy cơ mai một của các giá trị truyền thống trong quá trình đô thị hóa của văn minh Phương Tây. Qua đó, góp phần gìn giữ chân giá trị về ảnh của một Hà Nội thanh lịch, tinh tế, giàu bản sắc truyền thống văn hóa.

Nhìn chung, giai đoạn này, văn xuôi đã đặt nền móng cho việc khám phá Hà Nội, từ vẻ đẹp trữ tình đến phê phán xã hội, tạo nên một bức tranh toàn cảnh về thành phố đang chuyển mình.

2. Văn xuôi Hà Nội sau 1945 đến trước đổi mới: Hà Nội trong giai đoạn kháng chiến

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Hà Nội cùng cả nước bước vào những năm tháng kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Văn xuôi hiện đại thời kỳ này không chỉ biểu đạt cảm xúc cá nhân mà còn thể hiện tình cảm chung, mang hơi thở thời đại và gắn với vận mệnh đất nước. Văn xuôi hiện đại viết về Hà Nội phát triển mạnh cả về đề tài và chiều sâu nội dung, tập trung khắc họa con người trong dòng chảy lịch sử và những biến đổi xã hội sâu sắc.

Ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Huy Tưởng đã góp phần xây dựng hình tượng Hà Nội anh hùng qua tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô (1952). Tác phẩm tái hiện không khí sục sôi của toàn quốc kháng chiến năm 1946, với hình ảnh người dân Hà Nội từ trí thức đến lao động đoàn kết bảo vệ từng góc phố. Hà Nội ở đây được tái hiện với sự quả cảm, tinh thần anh dũng, nơi ý chí kiên cường được kết tinh trong bối cảnh kháng chiến, nơi thử thách lòng yêu nước, tinh thần bất khuất của người Thủ đô.

Ở chủ đề khác Vũ Bằng với các tác phẩm Miếng ngon Hà Nội (1952–1959) và sau này là Thương nhớ mười hai (1971), bằng tình yêu sâu sắc dành cho quê hương Hà Nội, tác giả đã tái hiện lại những món ăn đặc trưng của Hà Nội như phở, bún chả, bánh cuốn, cốm Vòng…, được miêu tả chi tiết cảnh vật, phong tục, ẩm thực, và con người gắn với mùa vụ, với cả mười hai tháng trong năm. Qua lối viết tài hoa, ẩm thực một nét văn hóa đặc trưng giàu bản sắc văn hóa của người Tràng An, với tác giả món ăn không chỉ để thưởng thức mà còn trở thành biểu tượng văn hóa tiêu biểu của Hà Nội.

 

Tiếp nối cảm hứng về một Hà Nội anh dũng, Nguyễn Đình Thi với bộ tiểu thuyết Vỡ bờ (1962–1970) và nhiều bút ký khác, Hà Nội được tiếp cận Thủ đô từ vẻ hào hoa truyền thống hòa quyện với ý chí chiến đấu kiên cường. Khát vọng độc lập và lòng yêu nước trở thành động lực tạo nên những bước ngoặt lịch sử về giá trị văn hóa, nơi hội tụ sức mạnh quật cường của một Thủ đô nghìn năm văn hiến.

Tiếp nối, trong kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Tuân trở lại với Hà Nội qua tập tùy bút Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972), dưới ngòi bút của ông không còn là không gian hoài cổ mà Hà Nội giờ là một pháo đài sống động, nơi người dân lao động và chiến đấu dưới bom đạn. Với bản lĩnh, trí tuệ và sức chịu đựng phi thường của con người được thử thách trước sự khốc liệt của bom đạn, người Hà Nội vẫn kiên trì bám trụ, hiên ngang hiện lên như biểu tượng của lòng yêu nước với sức mạnh cộng đồng.

Tiếp theo, sau ngày đất nước được giải phóng, khi Hà Nội và cả nước vừa thoát chiến tranh nhưng còn gặp nhiều khó khăn kinh tế, bao cấp. Văn xuôi Hà Nội đã kịp thời phản ánh đời sống thường ngày với những biến đổi trong văn hóa xã hội thời hậu chiến. Tác giả Ma Văn Kháng với tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn (1985) đã đi sâu phản ánh những xung đột về những giá trị truyền thống trong gia đình Hà Nội, nơi đạo đức, lễ nghi, lối sống, phong tục, trách nhiệm bị thử thách. Thông qua đó, tác giả muốn gửi thông điệp về cuộc sống dù có biến đổi, thay đổi như thế nào thì các chân giá trị về đạo đức, văn hóa truyền thống của người Hà Nội vẫn được coi trọng, bền vững.

Như vậy, có thể nhận thấy với văn xuôi thời chiến thường đề cao tinh thần chiến đấu và lý tưởng tập thể, thì văn xuôi hậu chiến hướng vào đời sống thường nhật, khai thác chiều sâu tâm lý, ký ức và truyền thống gia đình, khẳng định sức sống nội tại của Hà Nội qua con người và văn hóa.

3. Văn xuôi viết về Hà Nội từ Đổi mới đến nay: Hà Nội đương đại, những hoài niệm và đối diện.

Công cuộc đổi mới năm 1986 tạo ra những biến chuyển sâu sắc trong nhận thức và đời sống kinh tế xã hội. Trong bối cảnh đó, văn xuôi viết về Hà Nội vừa có những sắc thái hoài niệm về một Hà Nội xưa đang dần biến mất, vừa phản ánh những mặt trái của quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ.

Tiêu biểu thời kỳ đổi mới, Nguyễn Khải với truyện ngắn Một người Hà Nội (1986) đã khắc họa hình tượng con người Hà Nội thanh lịch đối diện với những biến động xã hội. Thông qua nhân vật, tác giả muốn ngợi ca bản lĩnh sống của người Hà Nội, với vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách giữa bối cảnh đất nước đổi mới, về các giá trị truyền thống, tình yêu quê hương, sự kiên cường, sức sống bền vững các giá trị truyền thống trước thay đổi của thời đại.

Tiếp mạch khám phá phố xá, Băng Sơn với tập tạp văn Hà Nội rong ruổi quẩn quanh (2012), tác giả đã khắc họa nên một không gian phố phường Hà Nội đương đại sinh động. Với lối quan sát tinh tế, ông miêu tả từ những thú chơi tao nhã đến nét bình dân nơi quán cóc vỉa hè hay tiếng rao đêm, qua đó làm nổi bật hình ảnh một Hà Nội thanh lịch, nên thơ vẫn giữ được nét nhịp sống riêng giữa sự vội vã của đô thị thời hiện đại.

Tiếp nối mạch hoài niệm, Tô Hoài với các tác phẩm Cát bụi chân ai (1992) và Chuyện cũ Hà Nội (1992), đã tái hiện được các nghề thủ công tỉ mỉ, phong tục cưới hỏi, Tết cổ truyền và sinh hoạt phố phường, gợi nỗi hoài cổ về một Hà Nội xưa đang dần phai mờ. Những trang văn của ông còn được xem như một kho tư liệu sống động về lịch sử văn hóa và đời sống đô thị Hà Nội thế kỷ XX.

Đến với các tác giả đương đại như Nguyễn Ngọc Tiến trong các tác phẩm Đi ngang Hà Nội (2012), Đi dọc Hà Nội (2012) và Đi xuyên Hà Nội (2015), không chỉ viết về khu phố cổ quen thuộc mà còn khám phá những vùng Hà Nội mới đang mở rộng và thay đổi từng ngày. Đỗ Phấn, với các tác phẩm như Vắng mặt, Rừng ngườiĐi xuyên Hà Nội (2017), miêu tả Hà Nội với những phố cổ bị các tòa cao ốc che lấp, nơi con người sống giữa đô thị đông đúc nhưng lại cảm thấy cô đơn và lạc lõng. Nguyễn Việt Hà với các tác phẩm Con giai phố cổ, Buổi chiều ngồi hátThị dân tiểu thuyết (2019) đã khắc họa về con người Hà Nội thời kì đổi mới, vẫn giữ nét thanh lịch và kiêu kỳ nhưng phải đối mặt với nhịp sống đô thị hóa tấp nập, hối hả.

Tiếp đến các tác giả trẻ Uông Triều như Hà Nội-Quán xá phố phường (2018), Hà Nội- Dấu xưa phố cũ (2020) và tiểu thuyết Hà Nội những mùa cổ điển (2024) đã khắc họa một Hà Nội cổ kính và giàu ký ức. Bình Ca với Quân khu Nam Đồng (2015) đã gợi lại những tháng ngày xưa cũ của Thủ đô, dù Hà Nội có đổi thay đổi nhưng bản sắc của thành phố vẫn được gìn giữ.

Như vậy, từ sau đổi mới, văn xuôi Hà Nội không chỉ dừng lại ở dòng hoài niệm mà còn phản ánh trung thực về quá trình hiện đại hóa và đô thị hóa đang xảy ra. Văn xuôi đương đại đã mở rộng hình ảnh Hà Nội, từ không gian truyền thống đến đời sống đô thị hiện đại và cả không gian mạng.

Kết luận

Có thể nói, văn xuôi hiện đại viết về Hà Nội đã góp phần quan trọng trong việc lưu giữ hình ảnh Thủ đô suốt nhiều chặng đường lịch sử. Từ thời thuộc địa, các cuộc kháng chiến, cho đến giai đoạn đổi mới và hội nhập đô thị hóa hôm nay, Hà Nội hiện lên vừa cổ kính vừa hiện đại, vừa gần gũi vừa biến đổi không ngừng. Điều đáng quý là, bên cạnh giá trị nghệ thuật, các tác phẩm này còn cung cấp cho người đọc những tư liệu sống động về văn hóa, nếp sống và con người Hà Nội. Nhờ văn chương, Hà Nội không chỉ được nhìn như một không gian địa lý, mà còn là nơi hội tụ ký ức, truyền thống và bản sắc đô thị.

Trong bối cảnh hội nhập mạnh mẽ, việc tiếp tục nghiên cứu và giới thiệu dòng văn xuôi này không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa Thủ đô, mà còn góp phần định vị Hà Nội trong tương quan với những đô thị lớn trên thế giới.

 

 TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1.  Nguyễn Tuân (2000), Vang bóng một thời, Nxb Văn học.

2.  Nguyễn Tuân (1972), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, Nxb Văn học.

3.  Thạch Lam (2003), Hà Nội băm sáu phố phường, Nxb Văn học.

4.  Vũ Trọng Phụng (2006), Số đỏ, Nxb Văn học.

5.  Nguyễn Đình Thi (2007) Vỡ bờ, Nxb Văn học.

6.  Tô Hoài (2010), Chuyện cũ Hà Nội, Nxb Kim Đồng.

7.  Nguyễn Khải (2002), Một người Hà Nội, Nxb Văn học.

8.  Ma Văn Kháng (2004), Mùa lá rụng trong vườn, Nxb Văn học.

9.  Vũ Bằng (2005), Miếng ngon Hà Nội, Nxb Văn học.

10.   Băng Sơn (2012), Hà Nội rong ruổi quẩn quanh, Nxb Trẻ.

11.   Nguyễn Ngọc Tiến (2017), Đi ngang Hà Nội, Nxb Trẻ.

12.   Đỗ Phấn (2017), Vắng mặt, Nxb Hội Nhà văn.

13.   Nguyễn Việt Hà (2018), Con giai phố cổ, Nxb Trẻ.

14.   Uông Triều (2018), Hà Nội, Quán xá phố phường, Nxb Văn Học.

15.   Bình Ca (2018) Quân khu Nam Đồng, Nxb Trẻ.