Hà Nội
Thứ Tư, 04/02/2026
16.4 oC

Trang phục người Hà Nội qua các thời kỳ

♦TS. Nguyễn Thị Thanh Hòa

 

Trang phục của người Hà Nội thể hiện sự thanh lịch, tinh tế, từ áo dài năm thânáo the, quần lĩnh của nam giới đến áo tứ thân, yếm đào, áo dài của nữ giới, kết hợp chất liệu lụa, tơ tằm và phụ kiện như khăn vấn, thắt lưng bao xanh, thể hiện sự kín đáo, nền nã, lịch thiệp, đồng thời phản ánh các giá trị văn hóa. Trang phục không chỉ là vẻ bề ngoài mà còn thể hiện tính cách, sự tôn trọng cộng đồng và bản sắc riêng của người Thủ đô qua các thời kỳ, từ giản dị đến hào hoa, nhưng luôn giữ nếp thanh lịch.

Trang phục thời kỳ Hùng Vương

Ngay từ thời Hùng Vương, người Hà Nội đã biết cách ăn mặc đẹp thể hiện qua hình trang trí trên trống đồng Cổ Loa: vào ngày hội, trên đầu người dân đội mũ gắn lông chim, quần áo làm bằng lông chim, nam mặc khố, nữ mặc áo chẽn, bó gọn lưng ong, váy dài chấm gót, có hoa văn trên váy áo, thắt lưng ngang hông, đầu đội mũ cao, thắt dải ngang trán. Trang phục vào ngày thường: nam mình trần đóng khố, trên người có săm hình giao long và các hoa văn khác. Nữ mặc áo ngắn đến bụng, xẻ ngực bó sát người, trong mặc yếm tròn sát cổ, có trang trí những hình hạt gạo. Ngoài ra, nữ giới có áo cánh ngắn, cổ vuông, để hở một phần vai và ngực hoặc kín ngực hở một phần vai và lưng; áo chui đầu hoặc cài khuy bên trái, áo có hoa văn trang trí; váy bó sát thân với hoạ tiết chấm tròn, có hình gạch chéo song song. Màu sắc phổ biến là màu vàng, đen, đỏ nâu, xám nhạt, vàng nhạt. Phụ kiện đi kèm trang phục bao gồm các loại vòng tay bằng đá, bằng đồng, vòng cổ chân.

Trang phục thời phong kiến

Thời phong kiến, gắn với hệ thống cung vua, phủ chúa nên trang phục của tầng lớp hoàng gia và quan lại có nhiều điểm khác biệt. Vua mặc long cổn, đội mũ tam sơn, áo hoàng bào mang đai ngọc; Chúa mặc áo bào tía, đội mũ xung thiên mang đai ngọc; Hoàng thái tử (con vua) mặc áo xanh đội mũ dương đường; Vương thế tử (con chúa) mặc áo đỏ đội mũ cánh chuồn dát vàng, bổ tử (bố tử) (là tấm vải hình vuông được đính ở ngực và lưng áo trên phẩm phục của các quan thời phong kiến ở Việt Nam). Học trò và dân thường khi nhà có việc lớn đều mặc áo thâm; vùng nông thôn, người dân mặc áo vải thô màu trứng.

Trang phục thời cận đại

Người Hà Nội luôn quan tâm đến việc sử dụng chất liệu của trang phục, phần lớn dùng the dệt bằng tơ tằm, nhuộm thâm; quần của nữ giới may từ lĩnh làng Bưởi (sợi mịn, mặt bóng); quần của nam giới may từ lụa trắng làng Cổ Đô. Ngoài ra, một số chất liệu vải cao cấp được sử dụng như lụa, là, sồi, đũi, nhiễu,… đều do các làng nghề ở Hà Nội hoặc các tỉnh lân cận sản xuất. Thị dân ở các phố nghề gắn với công việc buôn bán quần áo chủ yếu chọn màu thâm, trắng và nâu. Một số phường có nghề nhuộm vải như phường Đồng Lầm (nhuộm màu nâu), phường Hàng Đào (nhuộm màu điều/ đào).

Ảnh tư liệu (tapchinguoiHanoi.vn).

Cuối thế kỷ XVIII đầu XIX, trang phục của người Hà Nội có nhiều thay đổi về chất liệu và kiểu dáng. Ngoài chất liệu phổ biến như the, lĩnh, lượt, là… xuất hiện thêm chất liệu lụa, sa, xuyến, băng (những loại vải mỏng có độ bóng, có hoa văn), đoạn, gấm, vóc (dành cho vương, hầu, khanh, tướng). Kiểu dáng chủ yếu áo tứ thân cho nữ, áo dài cài chéo vạt cho nam. 

Sĩ phu và tri thức Hà Thành ( Ảnh tư liệu báo Tuổi trẻ.vn).

Màu sắc trang phục có sự phân biệt với từng đối tượng: Màu vàng chỉ dành riêng cho nhà vua và áo khoác cho các tượng Thần, Phật. Màu đỏ dùng trong tầng lớp công, hầu, khanh, tướng (hoặc dùng khi làm lễ thượng thọ cho cha mẹ với gia đình dân thường khá giả). Với người dân lao động phần lớn dùng áo vải nhuộm nâu, gia đình có điều kiện kinh tế dùng lụa, đũi nhuộm nâu. Người già thích màu tiết dê, tam giang (là những gam màu trầm, huyền ảo, pha trộn giữa xanh, xám, tím, vàng gợi lên vẻ đẹp của nước, bầu trời và cảnh vật nơi Phá Tam Giang (Huế). Các cô thôn nữ ưa màu hoa hiên (màu vàng cam rực rỡ). Xưa, màu đào thường bị coi là lẳng lơ, không đứng đắn, thường dùng cho người nghệ sĩ (múa, hát). Phụ kiện đi kèm trang phục gồm có giày dép, mũ, nón, ô; trang sức như vòng, nhẫn, dây, xuyến… bằng vàng, bạc làm tăng vẻ đẹp ngoại hình.

Trang phục của người Hà Nội thời hiện đại

Thời hiện đại, điểm nhấn trong trang phục vào mùa đông của người Hà Nội được tô điểm thêm các loại khăn đội đầu hay quàng cổ như khăn nhiễu, nhung, san mỏng; nam giới dùng khăn đầu rìu, khăn xếp. Ngoài đi giày, người Hà Nội còn dùng guốc tre, gỗ, dép quai ngang, dép mũ cong hình lá đề.

Quá trình giao lưu, tiếp biến từ các nền văn hoá diễn ra liên tục dẫn đến những thay đổi trong trang phục của người Hà Nội. Những năm đầu thế kỷ XX, ngoài lễ phục chung của cả nước như áo dài với phụ nữ, áo vest, sơ mi, quần Tây với nam, người Thủ đô đã sáng tạo nhiều kiểu dáng trang phục mới. Tuy nhiên, biểu tượng của trang phục người Việt Nam trong đó có người Hà Nội vẫn là chiếc áo dài truyền thống. Quá trình phát triển của áo dài là minh chứng tiêu biểu cho sự sáng tạo của người Thăng Long, từ chiếc áo tứ thân (thế kỷ XVII), kết hợp áo giao lĩnh (thế kỷ XVIII), thời Nguyễn đã hình thành chiếc áo dài ngũ thân, đây là cơ sở hình thành chiếc áo dài Lemur (tên tiếng Pháp của hoạ sĩ Cát Tường), bà là người sáng tạo chiếc áo dài với hai vạt, ôm sát cơ thể vào những năm 1939. Trên cơ sở biến thể áo dài Lemur, những năm 1950, hoạ sĩ Lê Phổ đã thiết kế chiếc áo dài trở nên gợi cảm, tinh tế hơn. Đến năm 1960, áo dài Raglan (còn gọi là áo dài giắc - lăng) do nhà may Dung ở Đakao, Sài Gòn tạo ra đã hoàn chỉnh và định hình phong cách cho áo dài sau này với dáng áo ôm khít cơ thể hơn, cách nối tay từ cổ chéo xuống một góc 45 độ giúp người mặc thoải mái linh hoạt hơn, hai tà nối với nhau bằng hàng nút bấm bên hông. Đến nay, chiếc áo dài truyền thống luôn là niềm tự hào, thể hiện sự kiêu hãnh, tinh tế, duyên dáng mỗi khi người phụ nữ Thủ đô khoác lên mình trong những ngày lễ lớn. Có thể nói, cùng với Sài Gòn, Hà Nội đã trở thành một trong hai trung tâm thiết kế và biểu diễn thời trang lớn của cả nước.

 Nửa đầu thế kỷ XX, Hà Nội có những con phố nổi tiếng với nghề bán vải như Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Vải; các con phố chuyên may quần áo như Hàng Trống, Hàng Gai; Hàng Giày, Hàng Hài bán giầy, dép; Hàng Nón bán các loại nón; Hàng Bông, Hàng Chỉ, Thợ Nhuộm… là những nơi cung cấp nguyên liệu may trang phục. Trước đây, những phiên chợ vải trên phố Hàng Đào thu hút đông đảo người từ La Khê, La Cả đến bán the, lụa, lượt, là; người làng Mỗ bán lụa; người làng Bưởi bán lĩnh… Người làng Chuông bán nón lá, người làng Triều Khúc bán quai thao làm duyên cho nón phản ánh qua câu ca:

Hà Nội thì tết quai tua,

Có hai con bướm đậu vừa xung quanh.

Chỉ cần nhìn người đội nón nào, người ta đoán ngay giai tầng và lứa tuổi của người sử dụng như nón tam giang dành cho ông già, nón lá sen cho trẻ con, nón lá cho con nhà giàu. Sau này, người Hà Nội du nhập nhiều loại mũ từ phương Tây như mũ cát, mũ lưỡi trai, mũ phớt, mũ nồi… làm phong phú thêm cho phụ kiện cùng trang phục.

Có thể nói, trang phục của người Hà Nội thể hiện đặc trưng về phong cách, tính cách phù hợp với văn hoá và bối cảnh lịch sử của mảnh đất nghìn năm văn hiến. Trải qua thời gian, trang phục của người Hà Nội có nhiều thay đổi nhưng đều toát lên vẻ đẹp lịch sự, trang nhã từ màu sắc, kiểu dáng và sự tinh tế trong việc lựa chọn các phụ kiện đi kèm. Điều này phản ánh nhận thức về thẩm mỹ, ý thức về sự hài hoà trong việc giữ gìn văn hoá truyền thống và giao lưu, tiếp biến văn hoá trong trang phục của người Hà Thành./.

 

 

Tài Liệu tham khảo

1.     Đoàn Thị Tình (2010), Trang phục Thăng Long – Hà Nội, Nxb. Hà Nội

2.     Tạp chí điện tử, Lịch sử phát triển áo dài Việt Nam qua các thời kỳ, đăng ngày 18/08/2020 trên https://hoilhpn.org.vn.

3.     Nét văn hoá trong trang phục của người Hà Nội đăng trên Vietnamnet.vn