Hà Nội
Thứ Tư, 04/02/2026
16.4 oC

Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên Hà Nội (phần 4)

♦ TS. Nguyễn Quang Anh

(tiếp theo phần 3)

 

Tài nguyên nước

Chế độ thủy văn

Mạng lưới sông ngòi hồ ao thành phố Hà Nội mang những nét đặc trưng riêng. Sông Hồng là sông chính của Hà Nội, bắt đầu chảy vào Hà Nội ở xã Bất Bạt và ra khỏi thành phố ở khu vực xã Đại Xuyên. Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 163km, chiếm khoảng một phần ba chiều dài trên địa phận Việt Nam. Hà Nội còn có sông Đà hợp lưu với sông Hồng ở một phần vùng núi Ba Vì - Sơn Tây, phía Bắc Thành phố. Trên địa phận Hà Nội còn nhiều sông khác như sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ,... Các sông nhỏ chảy trong khu vực nội thành như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu,... là những đường tiêu thoát nước cho Hà Nội.

 Sơ đồ mạng lưới sông suối thành phố Hà Nội

         Khu vực sông Hồng có mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9 hoặc tháng 10 với lượng mưa chiếm đến 75 - 85% lượng mưa năm, mùa khô kéo dài 6 đến 7 tháng, lượng mưa chiếm khoảng 15 - 25% lượng mưa năm nên chế độ dòng chảy sông Hồng có sự biến đổi mạnh mẽ theo thời gian và có 2 mùa rõ rệt. Mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 10, lượng dòng chảy mùa lũ chiếm khoảng 70 - 80% tổng lượng dòng chảy toàn năm. Ba tháng liên tục có lượng dòng chảy lớn nhất thường xuất hiện vào các tháng 7, 8, 9. Lượng dòng chảy của ba tháng này chiếm khoảng 50 - 60% tổng lượng dòng chảy năm. Lượng dòng chảy trung bình tháng lớn nhất thường xuất hiện vào tháng 7 hay 8 chiếm khoảng 15 - 20% tổng lượng dòng chảy năm. Mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, lượng dòng chảy trong mùa này chỉ chiếm 20 - 30% lượng dòng chảy năm. Ba tháng liên tục có dòng chảy nhỏ nhất thường xuất hiện vào các tháng 1 - 3 hay các tháng 2 - 4. Lượng dòng chảy của ba tháng này chiếm dưới 10% lượng dòng chảy năm. Sau khi hồ chứa Hòa Bình đi vào hoạt động (1989), tuy có nhiệm vụ cắt lũ cho vùng hạ du nhưng dòng chảy bình quân nhiều năm thay đổi không nhiều. Song do được điều tiết qua đập thủy điện Hòa Bình nên đỉnh lũ được hạ thấp, tuy nhiên quá trình lũ lại được kéo dài hơn do nước xả từ từ qua tuyến đập Hòa Bình. Qua chuỗi số liệu quan trắc từ năm 1960 có thể thấy dòng chảy trung bình năm tại trạm Hà Nội thời kỳ trước khi khởi công xây dựng công trình thủy điện Hòa Bình là 2.667 m³/s. Trong giai đoạn thi công công trình từ năm 1986 đến 1889 do ngăn dòng, tích nước vào hồ chứa nên lượng nước xuống hạ du giảm. Lưu lượng dòng chảy năm trung bình giai đoạn này đạt 2.300 m³/s, giảm 14,6% so với thời kỳ trước. Dòng chảy mùa kiệt giảm 13,2%, dòng chảy lũ giảm 19,4%. Khi công trình đã đi vào hoạt động dòng chảy bình quân từ năm 1990 đến 2011 đạt 2.426 m3/s, giảm so với giai đoạn trước khi xây dựng công trình thủy điện Hòa Bình là 3,7%. Do hồ Hòa Bình làm nhiệm vụ điều tiết năm nên dòng chảy mùa kiệt đã tăng 17,1% so với thời kỳ 1960-1985 trong khi dòng chảy lũ giảm 2,1%. Độ dài mùa kiệt kéo dài thêm 1 tháng so với thời kỳ 1956-1985 nhưng mức độ gay gắt đã giảm đi. Như vậy có thể nói chế độ điều tiết của công trình thủy điện Hòa Bình đã có ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy vùng hạ du. Hiện nay trên dòng chảy của sông Hồng và sông Đà mới có thêm một số hồ thủy điện lớn như Sơn La, Tuyên Quang... điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến dòng chảy và chế độ thủy văn của sông Hồng.

Các hồ Hà Nội

Hà Nội là thành phố nổi tiếng với rất nhiều hồ và đầm, với 154 hồ, đầm, ao tự nhiên và nhân tạo. Các hồ ở Hà Nội có vai trò quan trọng trong các hoạt động của thủ đô. Ngoài ra đã và sẽ có thêm một số hồ mới được đào thêm như hồ Mễ Trì A, B, C. Trong khi đó, một số ao nhỏ bị san lấp đất xây dựng. Phần lớn hồ do Công ty Công viên quản lý, một số khác do Công ty Thủy sản quản lý. Các hồ vừa làm chức năng cảnh quan, sinh hoạt văn hóa, vui chơi, giải trí, điều hòa không khí trong khu vực, vừa làm chức năng điều hòa nước mưa, xử lý nước thải, nuôi cá. Hồ Gươm nằm ở trung tâm đô thị cổ truyền, giữ một vị trí đặc biệt đối với Hà Nội; Hồ Tây có diện tích lớn nhất, khoảng 500 ha, đóng vai trò quan trọng trong khung cảnh đô thị. Trong khu vực nội ô có thể kể tới những hồ nổi tiếng khác như Trúc Bạch, Thiền Quang, Thủ Lệ... Ngoài ra, còn nhiều đầm hồ lớn nằm trên địa phận Hà Nội như Kim Liên, Linh Đàm, Ngải Sơn - Đồng Mô, Suối Hai, Mèo Gù, Xuân Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn.

Hồ Mễ Trì 

Các hồ ở Hà Nội không chỉ là các danh lam thắng cảnh, các cảnh quan sinh thái mặt nước cây xanh, một nét đặc sắc không thể thiếu được trong kiến trúc đô thị mà còn góp phần không nhỏ cho tưới tiêu nông nghiệp, điều tiết lượng nước mưa và tiểu khí hậu trong vùng. Ngoài ra, một số hồ còn có chức năng tiếp nhận và xử lỷ nước thải của thành phố. Danh sách các hồ lớn của Hà Nội và diện tích một số hồ như sau:

 

Khu vực

1. BA VÌ - SƠN TÂY

Đồng Mô - Ngải Sơn           

Suối Hai

Cẩm Quỳ

Xuân Khanh

Mèo Gù

2. PHÚC THỌ - HÀ ĐÔNG

Đồng Xương

Miễu

Vân Sơn

Tân Xã

3. THANH OAI - THƯỜNG TÍN - MỸ ĐỨC

Quan Sơn, Tuy Lai, Vĩnh An

4. MÊ LINH - ĐÔNG ANH - SÓC SƠN

Hồ Đại Lải

Đầm Vân Trì

Hồ Đồng Quan

5. Trung tâm Hà Nội

Hồ Hoàn Kiếm

Hồ Bách Thảo

Hồ Trúc Bạch

Hồ Giảng Võ

Hồ Thủ Lệ

Hồ Ngọc Khánh

Hồ Láng

Hồ Thành Công

Hồ Đầm

Hồ Hữu Tiệp

Hồ Nghĩa Đô

Ao Cầu

Hồ Quận Ủy

Hồ Thọ Tháp

Hồ Trung Kính

Ao Bái Ân

Ao Hòa Mục

Ao Đại học Sư phạm

Hồ Đại học Sân khấu - Điện ảnh

Ao Văn công

Ao Mai Dịch (Ngã ba Hồ Tùng Mậu)

Ao Đồng Nhân (Mai Dịch)

Ao Xóm Đa (Quan Hoa)

Hồ Đống Đa

Hồ Ba Mẫu

Hồ Nam Đồng

Hồ Văn Chương

Hồ Linh Quang

Hồ Hào Nam

Hồ Xã Đàn

Hồ Láng Thượng

Hồ Sót

Hồ Ba Giang

Hồ Giám

Hồ Khương Thượng

Hồ Kim Liên

Hồ Hố Mẻ

Hồ Bảy Mẫu

Hồ Thiền Quang

Hồ Hai Bà Trưng

Hồ Thanh Nhàn

Hồ Quỳnh

Hồ Công viên Tuổi trẻ

Hồ 108 (ao Cần)

Hồ Tiền

Ao Công an quận Hai Bà Trưng

Ao phường Vĩnh Tuy

Ao Trại cá

Ao cá Bác Hồ (Phường Vĩnh Tuy)

Hồ Linh Đàm

Hồ Định Công

Hồ Yên Sở

Hồ Giáp Bát

Hồ Rùa

Hồ Đồng Mụ

Hồ Đồng Nổi

Hồ Đồng Vàng

Hồ Đồng Riêng

Hồ Đồng Khuyến

Hồ Thanh Lan

Hồ Cá Yên Duyên

Hồ Công Viên

Hồ Cầu Tình

Hồ Tai Trâu

Hồ bến xe Gia Lâm

Hồ Tây

Hồ Quảng Bá

Hồ Bải Tảo

Hồ Bụng Cá

Đầm Bảy (Nhật Tân)

Ao chùa Phổ Ninh (Quảng An)

Ao trước KS Praser (Quảng An)

Hồ Trũng (Tứ Liên)

Ao Chùa Bà (Phú Thượng)

Ao Dài (Nhật Tân)

Đầm Trị (Quảng An)

Hồ Rẻ Quạt

Hồ Mễ Trì

Hồ Hình Thang

Đầm Mực

Tài nguyên nước ngầm

Nước ngầm cũng là nguồn tài nguyên quan trọng của thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, việc khai thác các loại tài nguyên này, hiện nay, chưa được quản lý chặt chẽ, còn lãng phí nhiều. Trong những năm tới, nhu cầu về các nguồn tài nguyên này cho phát triển kinh tế xã hội sẽ tăng lên gấp bội. Vì vậy, cần có các biện pháp quy hoạch và quản lý tốt việc khai thác và sử dụng vật liệu xây dựng và nguồn nước ngầm, tránh lãng phí và thất thoát.

Tầng chứa nước Holocen (qh) lộ ra trên bề mặt và phân bố ven sông Hồng và sông Đuống rồi và xuống phía Nam, còn ở phía Bắc chỉ phân bố thành dải hẹp dọc sông Cầu, sông Cà Lồ với chiều dày nhỏ.

Theo thành phần thạch học thường có hai tập. Tập trên phân bố không liên tục gồm sét pha thuộc phần trên của hệ tầng Thái Bình (Q23tb ) có chiều dày từ rất nhỏ đến 10m; tập dưới là cát có độ hạt khác nhau lẫn sỏi, chiều dày trung bình ở vùng Bắc sông Hồng, sông Đuống là 9,2m; Gia Lâm là 10,1m và Nam sông Hồng là 13,3m chứa nước tốt.

Nguồn cung cấp nước cho tầng là nước mưa, nước tưới, riêng dải ven sông về mùa lũ thì nước sông là nguồn cung cấp chính, nhưng vào mùa khô, nước trong tầng lại thoát ra các sông, bị bốc hơi và cung cấp cho các tầng chứa nước nằm dưới.

Tầng chứa nước này chỉ có ý nghĩa cung cấp nhỏ. Người dân vùng nông thôn ngoại thành thường đào giếng, khoan giếng đường kính nhỏ, khai thác nước trong tầng này. Tầng chứa nước dễ bị nhiểm bẩn và nhiều nơi đã bị nhiễm bẩn.

Tầng chứa nước Pleistocen (qp). Tầng chứa nước này không dày và chỉ lộ thành các khoảnh thung lũng hoặc ven rìa vùng đồi núi thuộc xã Sóc Sơn, Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ..., phần bị phủ hoàn toàn phân bố liên tục từ phía Nam khu vực Mê Linh - Đông Anh - Sóc Sơn trở xuống, chỉ gặp trong lỗ khoan độ sâu 2-10m ở phía Bắc sông Hồng, sông Đuống, 5-22m ở Gia Lâm và 10-35m ở Nam sông Hồng.

Tầng chứa nước qp gồm hai lớp. Lớp trên gồm các hạt vừa đến thô lẫn sạn, sỏi có bề dày trung bình 10-15m. Lớp dưới là cuội lẫn cát sạn đôi nơi lẫn cát sét ở đáy. Phía Bắc sông Hồng và sông Đuống có bề dày 12-22m, ở Gia Lâm và Nam sông Hồng bề dày 30-35m.

Nguồn cung cấp cho nguồn chứa nước qp chủ yếu là nước sông (về mùa lũ), nước mưa thấm qua tầng chứa nước qh bên trên, một phần thoát ra sông (về mùa khô), còn lại cung cấp cho tầng chứa nước bên dưới. Tầng chứa nước qp có trữ lượng nước lớn nên rất có ý nghĩa trong việc cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Hà Nội.

 (Còn tiếp...)