♦ TS. Nguyễn Quang Anh
(tiếp theo phần 2)
Địa hình sông, hồ Hà Nội
Ranh giới của vùng Hà Nội mở rông được bao quanh bởi Sông Đà ở phía Tây và Sông Hồng ở phía Bắc. Còn trong phạm vi của nó có các sông Tích, Đáy, Nhuệ, Bùi và rất nhiều hồ. Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu cả trong nước và quốc tế đều cho rằng, Hà Nội là một "thành phố sông hồ". Tuy nhiên, hầu hết các hồ ao tự nhiên đã bị lấp hoặc được cải tạo, chỉ còn lại dấu vết hay các hồ đã được cải tạo. Tiêu chí nổi bật nhất của sông hồ Hà Nội để trở thành tài nguyên là giá trị khoa học (đối với sông hồ tự nhiên). Còn các hồ nhân tạo lại có sự tổng hợp của các giá trị đã nêu.

Sông Hồng (khu vực cầu Chương Dương và Long Biên)
Các hồ nhân tạo: Hầu hết đều được xây dựng ở phía Tây, nơi có địa hình đồi núi và núi đá vôi. Các hồ này đều có diện tích tương đối lớn: hồ Suối Hai có diện tích lúc bình thường khoảng 700 - 800ha (nếu đạt tới mực nước thiết kế cao nhất ở cao trình 24,85m, thì diện tích mở rộng tới 1.200ha), hệ thống hồ Quan Sơn - Tuy Lai rộng khoảng 700ha. Các hồ này đều được xây dựng vào đầu những năm 1960 với mục tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp và cắt lũ. Sau nửa thế kỷ tồn tại, các hồ này đã mang lại nhiều lợi ích về nhiều mặt cho cuộc sống của người dân trong vùng. Việc điều tiết chế độ thủy văn, điều hòa vi khí hậu, giảm lũ và phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của các hồ nhân tạo vừa có giá trị khoa học lại vừa có giá trị thực tiễn. Bản thân các hồ cũng đồng thời là các công trình văn hóa của con người. Hồ Quan Sơn - Tuy Lai đã được mệnh danh là "Hạ Long trên cạn của Hà Nội", bởi vì trong hồ có tới gần 100 "hòn đảo" và một số "bán đảo" làm nổi bật giá trị thẩm mỹ. Giá trị thẩm mỹ còn được tôn thêm bởi chức năng sinh thái đất ngập nước với nhiều loài thủy sinh, như cá, rong, sen, súng... Các giá trị nêu trên có ý nghĩa to lớn để phát triển du lịch và nuôi trồng thủy sản mang lại giá trị kinh tế cao.
Các hồ tự nhiên: Hà Nội có rất nhiều hồ tự nhiên với kích thước rất khác nhau. Các hồ tự nhiên cũng là một thực thể địa lý và là nguồn tài nguyên quan trọng phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố. Ngoài cung cấp nước và nguồn lợi động thực vật, các hồ tự nhiên còn có các giá trị khoa học, văn hóa - lịch sử và trụ cột cho hệ sinh thái. Về mặt khoa học, các hồ tự nhiên ở Hà Nội đều có nguồn gốc sông được hình thành theo 2 cách: hoặc là khúc uốn của sông (còn gọi là hồ móng ngựa) như Hồ Tây, hồ Linh Đàm, Đầm Viên (xã Bình Minh), hồ ở xã Hát Môn..., hoặc là những đoạn lòng sông bị bỏ rơi (hay còn gọi là lòng sông cổ), như các hồ Hoàn Kiếm, đầm Vân Trì (xã Phúc Thịnh), Yên Mỹ (xã Thanh Trì), loạt hồ ở xã Phúc Lộc... Thông qua sự phân bố của các hồ này có thể khôi phục lại các dòng sông trước đây, đặc biệt là sông Đáy.
Về giá trị văn hóa - lịch sử: Giá trị này được nhận ra rõ ràng đối với Hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm...
Cảnh đẹp Hồ Tây và hồ Hoàn Kiếm đã trở thành chủ đề cho nhiều thơ ca, nhạc họa của cả trước đây và ngày nay. Hồ Tây đã trở thành một trong những địa điểm du ngoạn được nhà vua và các quan lại ưa thích. Nhiều lần du ngoạn có sương mù bao phủ làm cho cảnh tượng càng trở nên huyền ảo và hồ được đổi tên là Dâm Đàm.
Tài nguyên khí hậu
Khí hậu Hà Nội mang đậm bản sắc của khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng thuộc miền khí hậu phía Bắc - khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh. Điều này cũng tạo ra khí hậu có đủ 4 mùa cho Hà Nội.
Nằm sát chí tuyến Bắc, bức xạ tổng cộng năm ở khu vực Hà Nội đạt 122,8 kcal/cm2.năm, thuộc loại trung bình ở miền Bắc. Trong năm lượng bức xạ này có phân bố không đều, cao trong các tháng hè-thu (10-14 kcal/cm2.tháng) và thấp trong các tháng đông-xuân (6-8 kcal/cm2.tháng). Liên quan với bức xạ là số giờ nắng, tổng số giờ nắng/năm ở Hà Nội là khoảng 1450-1530 giờ/năm. Các tháng hè nắng nhiều, có khoảng 5-6 giờ nắng/ngày, các tháng đông ít nắng hơn, có khoảng 2-3 giờ nắng/ngày, lúc ít nắng nhất cũng chính là thời kỳ có mưa phùn ở Bắc Bộ - thời kỳ lượng mây lớn nhất trong năm.
Là hệ quả của hoàn lưu gió mùa Đông Nam Châu Á và đặc điểm hoản lưu địa phương - khu vực Bắc Bộ, chế độ gió ở Hà Nội có đặc điểm như sau: Mùa đông gió Đông Bắc, Bắc và Tây Bắc thịnh hành, trong đó gió Đông Bắc giữ vai trò chủ đạo (tần suất khoảng 23,6% - 27,3% trong các tháng 12 - 2) với tốc độ khá cao, khoảng 3,1 - 3,2 m/s. Mùa hè, gió Đông Nam, gió Đông thịnh hành, trong đó gió chủ đạo chính là gió Đông Nam (tần suất là 40,9% - 47,6% trong các tháng 3-5) và tốc độ vào khoảng 2,8-3 m/s.
Về tốc độ gió: Trong khi tốc độ gió trung bình ở khu vực Hà Nội không cao, chỉ khoảng 1,1 - 2,0 m/s thì tốc độ gió mạnh nhất đã từng quan sát thấy ở khu vực Hà Nội có thể lên đến 24-34 m/s.
Điểm nổi bật của chế độ nhiệt ở khu vực Hà Nội là sự hạ thấp của nền nhiệt trong các tháng mùa đông và theo độ cao địa hình ở khu vực đồi núi phía Tây Bắc, phía Bắc. Nhiệt độ trung bình năm ở khu vực đồng bằng phổ biến là khoảng 23,3 - 23,7°C, đảm bảo tổng độ tích ôn khoảng 8600-8500°C. Khu vực đồi núi thấp phía Bắc, Tây Bắc Hà Nội (Sóc Sơn, Ba Vì), nhiệt độ giảm theo độ cao địa hình rõ rệt, ở độ cao 500 - 700m, nhiệt độ trung bình năm khoảng 20 - 19°C, tương đương với tổng độ tích ôn khoảng 70000C. Lên đến độ cao 900-1000m nhiệt độ trung bình năm sẽ chỉ còn vào khoảng 180C và tổng độ tích ôn sẽ chỉ còn khoảng 6500°C.
Mùa hè, từ tháng 5 đến hết tháng 9, thời tiết nóng bức, nhiệt độ không khí trung bình khoảng 27,9 - 28,3°C. Mùa đông, từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh - mát, nhiệt độ trung bình khoảng 18,8 - 18,8°C; mùa đông trên phần lớn lãnh thổ đồng bằng Hà Nội có tới 2-3 tháng lạnh (nhiệt độ trung bình tháng lạnh xuống dưới 18°C). Khu vực đồi núi phía Bắc và Tây Bắc mùa đông còn lạnh hơn do ảnh hưởng của độ cao địa hình, số tháng lạnh ở vùng đồi núi của Hà Nội có thể lên đến 4-5 tháng.
Quan sát biến trình nhiều năm (1930-2012) của nhiệt độ không khí trung bình năm ở Láng cho thấy: Nhiệt độ không khí trung bình năm cao nhất đã gặp là 25,1°C (năm 1998) và nhiệt độ trung bình năm thấp nhất là 22,8°C (năm 1934). Tuy nhiệt độ trung bình năm có lúc tăng lúc giảm, nhưng gần một thế kỷ qua xu thế chung là tăng và đường xu thế có dạng: Y = 0,0125*x +23,152.
Các số liệu nhiệt độ tối cao và tối thấp tuyệt đối đã ghi nhận được trên toàn khu vực Hà Nội cho thấy nhiệt độ không khí cao nhất đã gặp là: 42,8°C tại trạm Láng vào tháng 5 năm 1926. Và nhiệt độ thấp nhất đã gặp là 2,7°C cũng ở Láng vào ngày 12 tháng 1 năm 1995.
Biên độ nhiệt độ năm ở khu vực Hà Nội là khoảng 12,5-12,8°C, trong khi biên độ nhiệt ngày-đêm trung bình ở đây không lớn, chỉ khoảng 6,1-6,6°C.
Như nhiều nơi khác khu vực Hà Nội có chế độ mưa mùa hè của vùng nhiệt đới với tổng lượng mưa năm ở vùng thấp dao động trong khoảng 1500-1900 mm/năm với khoảng 140 - 157 ngày mưa/năm, ở khu vực đồi, núi thấp phía Bắc (Sóc Sơn), Tây Bắc (Ba Vì) tổng lượng mưa năm tăng lên nhanh chóng, có thể đến 2000-2400mm/năm, tùy theo từng nơi. Chế độ mưa có sự phân lập tương đối rõ: mùa mưa kéo dài 6 tháng, từ tháng 5 đến tháng 10; và mùa ít mưa kéo dài 6 tháng còn lại, từ tháng 11 của năm trước đến hết tháng 4 của năm sau. Mức độ khô hạn của khí hậu Hà Nội không rõ rệt, mùa ít mưa phần lớn các nơi đều chỉ có khoảng 2 tháng khô (r < 25 mm/tháng).
Qua hơn một thế kỷ (1890 - 2012), tổng lượng mưa năm ở khu vực Hà Nội có lúc tăng lúc giảm, lấy trạm Láng làm ví dụ cho thấy năm có tổng lượng mưa năm lớn nhất: 2536,0 mm (năm 1994) và năm thấp nhất: 1033,1 mm (năm 1988).
Nhìn chung hơn một thế kỷ qua, tổng lượng mưa năm có xu thế giảm nhẹ và phương trình xu thế có dạng: Y = - 0,5908*x + 1718.
Các số liệu nhiều năm cho thấy những lượng mưa ngày kỷ lục đã gặp là Láng: 586,8mm/ngày trong tháng 7 năm 1902; Ba Vì: 554,6mm vào ngày 24 tháng 7 năm 1980; Sơn Tây: 508,0mm vào ngày 14 tháng 7 năm 1971.
Độ ẩm không khí trung bình năm trên khu vực Hà Nội là khoảng 83-85%, thuộc loại trung bình ở miền Bắc Việt Nam. Mặc dù trong năm độ ẩm biến động không nhiều, tuy nhiên thời kỳ có mưa phùn ở Bắc Bộ (tháng 3 và 4), độ ẩm không khí cao hơn rõ rệt, đạt khoảng 86-89%; thời kỳ có độ ẩm thấp nhất trong năm là các tháng cuối thu đầu đông (tháng 11 và 12), độ ẩm không khí chỉ còn khoảng 79-82%.
Mặc dù ở giữa mùa mưa (tháng 7 và 8) vẫn có thể gặp những ngày khô, độ ẩm không khí thấp tuyệt đối xuống đến 35 - 40%. Mùa khô giá trị thấp tuyệt đối của độ ẩm còn thấp hơn: 15 - 25%. Đặc biệt, giá trị thấp nhất trên toàn vùng đã gặp là độ ẩm 16% quan trắc thấy trong ngày 16-1-1932 ở Láng.
Là hệ quả của chế độ bức xạ, nắng, mưa và chế độ gió, lượng bốc hơi không khí trên đia bàn Hà Nội dao động trong khoảng 770 - 900 mm/năm.
Trên địa bàn khu vực Hà Nội có thể gặp các hiện tượng thời tiết đặc biệt sau:
Sương mù là hiện tượng thời tiết đặc biệt có thể gặp trong các tháng mùa đông ở khu vực Hà Nội có khoảng 8 - 15 ngày sương mù/năm.
Sương muối xuất hiện ở khu vực Hà Nội chủ yếu vào các tháng giữa mùa đông (các tháng 12-1) với tần suất rất thấp, cả trăm năm mới có thể gặp một vài lần.
Ở khu vực Hà Nội hàng năm vào cuối đông đầu xuân thường có mưa phùn, trung bình có khoảng 7-30 ngày mưa phùn/năm, tùy theo từng nơi.
Ở khu vực Hà Nội trung bình hàng năm có khoảng từ 75 đến 90 ngày dông/năm. Thời điểm đầu hè - mùa mưa (các tháng 5-8) thường hay gặp nhiều ngày dông nhất trong năm.
Số liệu thống kê hơn ba chục năm gần đây cho thấy trên địa bàn Hà Nội nơi tố lốc gặp nhiều nhất (6 lần) là ở Đống Đa, Sơn Tây (một phần khu vực trung tâm TP, Ba Vì - Sơn Tây), mỗi năm 1 lần có năm 2 lần. Những nơi khác như Phúc Thọ (một phần khu vực Phúc Thọ - Hà Đông) đã gặp 2 lần trong 2 năm, các xã, phường Sóc Sơn, Từ Liêm, Ba Vì, Đan Phượng, Mỹ Đức... (một phần khu vực trung tâm TP, Mê Linh - Đông Anh - Sóc Sơn, Ba Vì - Sơn Tây, Phúc Thọ - Hà Đông) qua hơn 30 năm mới gặp 1 lần.
Ở khu vực Hà Nội, trung bình hàng năm có thể có từ 0,06 đến 1,1 ngày mưa đá/năm. Mưa đá hay gặp nhất là trong các tháng 3-5, là thời điểm giao mùa chuyển tiếp giữa cuối mùa khô sang đầu mùa mưa.
Các số liệu thống kê trên 50 năm gần đấy cho thấy tần số của bão/áp thấp nhiệt đới ở khu vực Hà Nội là khoảng 1,67 cơn/năm. Mùa bão nếu đến sớm có thể bắt đầu trong tháng 6, mùa bão nếu kết thúc muộn có thể là trong tháng 11, cao điểm hoạt động của mùa bão là các tháng 7 - 9 với tần số cao hơn hẳn các tháng còn lại của mùa bão./.
(Còn tiếp...)