Hà Nội
Thứ Tư, 04/02/2026
16.4 oC

Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên Hà Nội (phần 1)

♦ TS. Nguyễn Quang Anh

Vị trí địa lý

Thành phố Hà Nội có vị trí từ 20°53′ đến 21°23′ vĩ độ Bắc và 105°44′ đến 106°02′ kinh độ Đông, có diện tích tự nhiên[1] 3359,84km2. Lãnh thổ Hà Nội trải dài theo chiều Bắc - Nam khoảng 91km, theo chiều Tây - Đông khoảng 77km. Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên. Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ. Phía Đông - Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh. Phía Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên và phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình.

Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, có 2 khối núi trung bình là núi Sóc ở phía Bắc và núi Ba Vì ở phía Tây. Sông Hồng là con sông chính chảy qua thành phố Hà Nội từ đỉnh phía Tây Bắc qua phía Đông Nam đi vòng qua phía Bắc sang phía Đông khu vực trung tâm nội thành. Một phần sông Đà trước khi đổ vào sông Hồng là ranh giới tự nhiên giữa Hà Nội và Phú Thọ. Sông Hồng có những đoạn là ranh giới tự nhiên giữa Hà Nội với các tỉnh Phú Thọ ở phía Bắc, Hưng Yên ở phía Đông...

Đồng bằng sông Hồng là một vùng đất cổ, có dân số đông, tốc độ đô thị hóa nhanh, nên đã hình thành nhiều đô thị lớn, trong đó, thành phố Hà Nội là đô thị đặc biệt, trung tâm và động lực phát triển của toàn vùng. Nếu xem xét theo quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội, với thành phố Hà Nội là đô thị trung tâm, các phường, xã của các tỉnh lân cận (Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng và Ninh Bình) là các đô thị vệ tinh, thì vùng thủ đô Hà Nội thực sự là một chùm đô thị có sức mạnh vượt trội cả về vị thế địa chính trị, địa kinh tế. Thành phố Hà Nội là một "đỉnh" của tam giác trọng điểm phía Bắc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, sau này phát triển thành vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, gồm các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng và Quảng Ninh.

           Tài nguyên thiên nhiên Hà Nội

Tài nguyên khoáng sản

Khoáng sản của thành phố Hà Nội tương đối phong phú về chủng loại. Tuy có một số khoảng sản kim loại, nhưng hạn chế về trữ lượng ít có giá trị thực tế để khai thác. Phong phú nhất là vật liệu xây dựng, như cát, sạn, sỏi, sét gạch ngói, đá vôi và đá ong.

Nhiên liệu:

Than đá: Khoáng sản nhiên liệu của thành phố Hà Nội có than đá với điểm khoáng sản Ninh Sơn, tuổi Permi muộn. Nhìn chung, than có chất lượng thấp, ít giá trị công nghiệp. Trước đây, dân địa phương đã khai thác than bằng phương pháp thủ công, hiện nay điểm than đá Ninh Sơn đã ngừng khai thác.

Than bùn: Than bùn ở thành phố Hà Nội được phát hiện ở nhiều nơi trong trầm tích Đệ tứ. Đến nay đã phát hiện và tìm kiếm đánh giá một số mỏ và điểm khoáng sản than bùn với tổng trữ lượng khoảng trên 30 triệu tấn. Trong đó lớn nhất là các mỏ ở Ứng Hòa, Ba Vì, Thạch Thất.

Kim loại:

Các mỏ kim loại của Hà Nội có sắt, đồng và vàng đều phân bố quanh khu vực núi Ba Vì. Các mỏ này đều nhỏ, không có giá trị công nghiệp và đã ngừng khai thác.

Khoáng sản công nghiệp:

Pyrit: Pyrit gặp ở 2 mỏ khoáng: Ba Trại, Minh Quang, cùng các biểu hiện khoáng sản đồng (Cu) ở nông trường Phú Mãn và Ba Vì.

Kaolin: Kaolin là sản phẩm phong hóa từ các ổ mạch pegmatit và đá trầm tích phun trào acit. Các mỏ kaolin đều có quy mô nhỏ, chất lượng tốt đến trung bình, dùng để sản xuất gốm sứ. Đến nay, ở Hà Nội đã phát hiện, tìm kiếm và đánh giá 12 mỏ và điểm khoáng sản kaolin điển hình là Ba Trại, Thủ Trung, Mỹ Khê, Vị Nhuế và Thái Học.

Asbest: Asbest phân bố xung quanh núi Ba Vì. Hiện nay đã tìm kiếm đánh giá 3 mỏ: Khu Mon (57.000 tấn), Khu Quýt (31.944 tấn), Đồng Chang (855 tấn) và 1 điểm khoáng sản: Lố Ngố. Tổng trữ lượng khoảng 76.830 tấn.

Bản đồ địa chất và khoáng sản thành phố Hà Nội

 

Vật liệu xây dựng:

Cuội sỏi: Thuộc loại khoáng sản này có 2 điểm không lớn là cuội sỏi Xóm Ban (567.500m³) và Trung Hà (750.000m³). Các tài liệu cho thấy cuội sỏi có thể sử dụng cho xây dựng nhà cửa, cầu cống. Cuội sỏi trong hệ tầng Hà Nội có chất lượng tốt, điều kiện khai thác dễ dàng và giao thông thuận lợi.

Cát xây dựng: Cát xây dựng quy mô nhỏ có các điểm Nhật Tân, Phù Đổng và Phù Lỗ,... Cát xây dựng phân bố trên bãi bồi các sông lớn như sông Hồng, sông Đuống, sông Cà Lồ. Nguồn cát xây dựng ở các bãi bồi khoảng 75 triệu m³ chỉ đáp ứng đước một số năm trước mắt, nên trong khai thác cần phải có quy hoạch và quy định chặt để bảo vệ môi trường.

Sét gạch ngói: Sét gạch ngói là khoáng sản khá phổ biến trên địa bàn thành phố. Chúng có diện phân bố lớn nhất trong các loại khoáng sản. Chúng được phân bố chủ yếu ở phía Đông Bắc, Đông và Đông Nam thành phố, thuộc địa hình đồng bằng. Hiện đã khảo sát đánh giá 5 mỏ gồm: Sơn Tây, Mỹ Đức, Chúc Sơn, Đa Sỹ, Vân Đình. Nhìn chung, các mỏ đều có chất lượng đạt yêu cầu làm gạch ngói, chủ yếu phục vụ nhu cầu xây dựng của Thủ đô.

Bột màu: Bột màu tự nhiên màu vàng có điểm Ninh Sơn, phường Chương Mỹ, với trữ lượng khoảng 1,3 triệu tấn.

Puzlan: Puzlan là loại phụ gia phục vụ sản xuất xi măng. Hiện nay đã đăng ký có mỏ puzlan Sơn Tây (trữ lượng 27,7 triệu tấn) và điểm khoáng sản Thanh Thắc (500.000 tấn).

Đá bazan: Hiện mới đăng ký được 2 mỏ đá Núi Voi và Đồng Vỡ đều ở xã Phú Cát, trữ lượng trên 25,8 triệu m³. Chất lượng đá đảm bảo các chỉ tiêu làm đá xây dựng cao cấp.

Đá ryolit đã được khai thác từ lâu, qua điều tra sơ bộ cho thấy đá ryolit thuộc hệ tầng Tam Đảo, diện lộ dài 2000m, rộng từ vài trăm đến 1.500m; đá có độ bền cơ học tốt.

Đá vôi xi măng đã có 1 mỏ và 1 điểm khoáng, trong đó có mỏ đá Mỹ Đức đã được đánh giá khoảng 100 triệu tấn, điểm khoáng sản Làng Rỹ khoảng 4 triệu tấn.

Đá vôi xây dựng cũng là khoáng sản tiềm năng của thành phố. Hiện đã đăng ký 1 mỏ đá vôi Núi Chẹ khoảng 59,287 triệu m³ và điểm đá vôi xây dựng Miếu Môn khoảng 7,2 triệu m³. Ngoài các mỏ và điểm quặng vừa nêu, ở các dải đá vôi khu vực Phúc Thọ - Hà Đông và Thanh Oai - Thường Tín - Mỹ Đức còn chưa được đánh giá đầy đủ. Hiện nay đá vôi xây dựng là nguồn vật liệu quan trọng cho thành phố Hà Nội.

Đá ong (Laterit) gặp khá phổ biến trên các bề mặt gò đồi thấp tiếp giáp giữa đồng bằng với các vùng núi, phân bố chủ yếu ở phía Bắc, Đông - Bắc, thuộc một phần khu vực vùng núi Ba Vì - Sơn Tây và khu vực Phúc Thọ - Hà Đông. Các mỏ Phương Hài khoảng 18 triệu m³, Thạch Thất khoảng 15 triệu m³... Có thể khai thác loại đá này ở dạng khối để xây nhà hoặc rải đường.

Nước khoáng:

Hiện Hà Nội phát hiện 3 điểm nước khoáng là Mỹ Khê, xã Suối Hai; phường Định Công; xã Sóc Sơn, trong đó mỏ Mỹ Khê có kết quả phân tích cho thấy nguồn nước này thuộc loại nước khoáng sulphat, có giá trị chữa bệnh cao.

(Còn tiếp...)

 



[1] Theo Niên giám thống kê năm 2025.