♦TS. Lê Thị Cúc
Phật giáo là một tôn giáo lớn ở Việt Nam, có lịch sử lâu đời và ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống của người Việt. Tại Hà Nội - vùng đất gắn liền với lịch sử Thăng Long, Phật giáo đã hình thành từ trước thời Lý, phát triển rực rỡ dưới các triều Lý- Trần, duy trì sinh hoạt qua các triều Lê - Nguyễn và tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Hà Nội hiện nay. Qua hệ thống chùa chiền, lễ hội và sinh hoạt tín ngưỡng, Phật giáo đã tác động sâu sắc đến tư tưởng, đạo đức, lối sống và phong tục tập quán của cư dân Hà Nội.
Lịch sử hình thành và phát triển Phật giáo ở Hà Nội
Phật giáo là tôn giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ sau đó truyền bá sang các quốc gia phương Đông, trong đó có Việt Nam. Phật giáo có thể được truyền vào Việt Nam xoay quanh khoảng thời gian một vài thế kỷ trước hoặc sau Công nguyên. Mặc dù vẫn còn có ý kiến chưa thống nhất nhưng theo ghi chép của một số nguồn sử liệu, thời điểm Phật giáo được truyền vào Việt Nam đầu tiên khoảng thế kỷ II. Lúc này, các nhà sư Ấn Độ đã theo thuyền buôn đi đường biển đến Luy Lâu (vùng Dâu) nay thuộc Thuận Thành - Bắc Ninh và hình thành nhánh Phật giáo Sơn môn Dâu. “Đó là cơ tầng Phật giáo Việt - Ấn có trước khi Phật giáo Trung Quốc truyền nhập.”[1]Từ thế kỷ IX với sự hình thành sơn môn Kiến Sơ tại chùa Kiến Sơ[2] đến thế kỷ XIII với sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm, Phật giáo ở Hà Nội từng bước định hình bản sắc và xu hướng phát triển xuyên suốt lịch sử.
Tượng thiền sư Vô Ngôn Thông tại chùa Kiến Sơ (Ảnh sưu tầm).
Hà Nội mặc dù không phải là địa bàn du nhập Phật giáo đầu tiên. Tuy nhiên, quá trình phát triển Phật giáo ở Hà Nội có thể đánh dấu mốc từ thời nhà Lý. Tính đến nay, Phật giáo ở Hà Nội đã trải qua những giai đoạn thịnh suy - thăng trầm khác nhau. Phật giáo hiện diện trên vùng đất Thăng Long - Hà Nội có thể gắn với những nhà sư hoặc là người Thăng Long - Hà Nội hoặc các nhà sư dù sinh ra và tu hành ở các địa phương khác nhưng có đóng góp cho sự phát triển của Phật giáo ở Thăng Long - Hà Nội.
Thời nhà Lý, Phật giáo hưng thịnh ở Thăng Long - trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước. Các vua nhà Lý rất mộ đạo, biến Phật giáo thành hệ tư tưởng gắn với đường lối chính trị. Các thiền sư nổi tiếng bấy giờ phải kể đến Vạn Hạnh, Đa Bảo. Thăng Long trở thành trung tâm nhiều tông phái, đặc biệt là sơn môn Kiến Sơ, bên cạnh sự phát triển của các sơn môn khác và tư tưởng Mật giáo, thờ Đế Thích, Quan Thế Âm. Hiện tượng Tam giáo đồng nguyên xuất hiện nhưng Phật giáo giữ ưu thế, đồng thời tiếp nhận ảnh hưởng sâu rộng từ Phật giáo Trung Quốc, thể hiện rõ trong các tác phẩm và lý luận siêu hình như Hữu - Không, Nhất Thừa.
Thời nhà Trần, Phật giáo tiếp tục giữ vị trí quốc giáo. Nếu các vua nhà Lý xây dựng nhiều quốc tự ở Thăng Long thì các vua nhà Trần lại xây dựng nhiều quốc tự ở Yên Tử. Thời Lý xuất hiện tông phái Thảo Đường - tông phái Thiền của Trung Quốc. Các sơn môn Dâu và Kiến Sơ dần hòa nhập lại với nhau thành một thiền phái thống nhất. Thăng Long mặc dù có nhiều nhà sư xuất thân quý tộc, kể cả vua nhưng bấy giờ cũng chỉ là trung tâm Phật giáo lớn thứ hai sau trung tâm Phật giáo ở vùng Dâu. Tuy nhiên “Đến thời Trần, trung tâm Phật giáo Yên Tử của các vua Trần trở thành trung tâm Phật giáo lớn thứ nhất đè bẹp các trung tâm khác vì một nhà Vua - Bụt trở thành giáo chủ Tông Trúc Lâm.”[3] Trong bối cảnh kháng chiến chống Nguyên - Mông, Phật giáo thời Trần ở Thăng Long phát triển theo hướng đề cao tính độc lập, ít xây dựng chùa tháp mới nhưng vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần, tạo tiền đề cho những biến đổi dưới thời Lê.
Sang thời Lê Sơ, Nho giáo giữ vị trí chủ đạo, khiến Phật giáo ở Thăng Long chủ yếu tồn tại trong đời sống dân gian hơn là trong hoàng cung và không còn sôi động như thời Lý - Trần. Triều đình chú trọng xây dựng Văn Miếu, bia tiến sĩ và phát triển khoa cử, song sinh hoạt Phật giáo vẫn được duy trì qua việc tu bổ, xây dựng một số chùa như Thanh Đàm, Chiêu Độ; đến thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII), Phật giáo có dấu hiệu phục hưng, dù Nho giáo vẫn giữ ưu thế trong hệ tư tưởng xã hội.
Sau khi nhà Nguyễn thành lập và rời đô vào Huế, Hà Nội không còn giữ vai trò trung tâm chính trị mà chỉ là một tỉnh thành. Huế trở thành trung tâm Phật giáo của cả nước. Vua Nguyễn thời này ít nhiều hạn chế Phật giáo Bắc Hà vì vua Lê - chúa Trịnh có ảnh hưởng khá lớn đến các chức sắc Phật giáo Bắc Hà nên không có lợi cho vua Nguyễn. Vì vậy, mặc dù lúc này Phật giáo Huế và một số tỉnh thành phát triển nhưng Phật giáo Hà Nội có phần bị hạn chế. Số lượng các ngôi chùa được xây dựng ở Hà Nội cơ bản ít hơn nhiều so với ở Huế.
Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp và Hà Nội là trung tâm giao thoa văn hóa Đông - Tây, Phật giáo bước vào giai đoạn cận hiện đại với nhiều biến động. Từ những năm 1930, giới tăng sĩ Hà Nội tham gia tích cực phong trào chấn hưng Phật giáo, tiêu biểu là việc thành lập Bắc Kỳ Phật giáo Tổng hội (1934) và các tổ chức tăng già tại chùa Quán Sứ, qua đó từng bước khẳng định lại vị thế của Phật giáo Hà Nội trong Phật giáo cả nước. Năm 1942, cũng tại chùa Quán Sư, Hội Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Việt[4] được thành lập.
Từ sau năm 1945, đặc biệt là sau khi đất nước thống nhất, Phật giáo Việt Nam từng bước hợp nhất tổ chức trên phạm vi cả nước. Từ năm 1981 đến đầu thế kỷ XXI, nhiều kỳ Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội vào các năm 1981, 1987, 1992, 1997, 2002… khẳng định vai trò của Thủ đô trong đời sống Phật giáo đương đại, với chùa Quán Sứ là trung tâm Phật giáo của cả nước.
Đặc điểm của Phật giáo ở Hà Nội
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, Phật giáo ở vùng Thăng Long - Hà Nội mang những đặc điểm riêng, tiêu biểu cho Phật giáo Bắc Bộ. Trước hết, đây là Phật giáo Đại thừa, với khuynh hướng Hữu thần rõ nét: ngay từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã tiếp nhận các kinh điển Đại thừa và sớm gắn hình tượng Phật với yếu tố thần linh, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân. Trong quan điểm của Phật giáo Đại Thừa bấy giờ, Thích Ca Mâu Ni đã được thần hóa. Các kinh điển chủ yếu của Đại Thừa tiền Long Thọ là Kinh Bát Nhã, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Duy Ma, Kinh Pháp Hoa…Từ đầu khi Phật giáo vào Việt Nam, người Việt đã coi Phật là một loại Thần. Triết học Phật giáo Việt Nam thuộc triết học Hữu Thần.
Thứ hai, ở vùng Thăng Long - Hà Nội, Phật giáo dân gian ăn sâu vào tâm thức cộng đồng hơn Phật giáo bác học, với đặc trưng Hữu thần luận rõ nét. Phật giáo dân gian không nhấn mạnh chiều sâu triết học kinh điển mà hướng tới triết lý nhân sinh “cứu khổ cứu nạn”, trong đó Phật và Bồ Tát được xem như các đấng linh thiêng che chở cho đời sống con người. Quan Thế Âm Bồ Tát được tôn thờ rộng rãi, gắn với các nhu cầu thiết thực như cầu mưa, cầu con, cầu bình an. Ảnh hưởng từ quan niệm dân gian, ngày nay, khi hiếm muộn về con cái, các bà mẹ vẫn cầu xin Phật bà ban cho một đứa con. Nhiều ngôi chùa ở Hà Nội (điển hình như chùa Hương) có ban thờ Cô, ban thờ Cậu - nơi người Việt thường cầu tự khi đến lễ chùa.
Vai trò của Phật giáo ở Hà Nội
Ở vùng Thăng Long - Hà Nội, chùa giữ vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa và tinh thần của cộng đồng người Việt. Thông qua hệ thống chùa chiền và các sinh hoạt tín ngưỡng, Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng, đạo đức, lối sống và phong tục lễ hội của cư dân. Từ thời Lý, Thăng Long trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng bên cạnh Luy Lâu, với nhiều ngôi chùa gắn liền tiến trình lịch sử kinh đô. Đến nay, nhiều chùa cổ vẫn hiện diện trên địa bàn các quận, huyện nội và ngoại thành Hà Nội. Tiêu biểu như chùa Trấn Quốc, chùa Diên Hựu, chùa Phúc Khánh ở nội thành; chùa Đậu, chùa Bối Khê, chùa Hương, chùa Trăm Gian, chùa Tây Phương, chùa Thầy ở vùng Hà Nội mở rộng. Điều đó thể hiện sự bền vững của Phật giáo trong đời sống tinh thần và văn hóa của người Hà Nội.
Chùa Trấn Quốc (Ảnh sưu tầm).
Gắn liền với tiến trình hình thành và phát triển của Thăng Long - Hà Nội, Phật giáo không chỉ là một tôn giáo lớn mà còn là thành tố quan trọng cấu thành bản sắc văn hóa của Hà Nội. Qua nhiều thế kỷ, Phật giáo đã in dấu sâu đậm trong không gian kiến trúc chùa chiền, lễ hội, sinh hoạt tín ngưỡng và đời sống tinh thần của cư dân nơi đây. Trong bối cảnh đô thị hóa và hiện đại hóa hiện nay, việc nhận diện đúng vai trò lịch sử của Phật giáo ở Hà Nội có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa Phật giáo, qua đó gìn giữ bản sắc văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong đời sống đương đại./.
[1] Nguyễn Duy Hinh (2006), Triết học Phật giáo Việt Nam, Nxb.Văn hóa Nghệ thuật và Viện Văn hóa, tr.20.
[2] Chùa Kiến Sơ nay thuộc Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Viết Chức, Nguyễn Vĩnh Phúc (chủ biên) (2017), Bách khoa thư Hà Nội - Phần Hà Nội mở rộng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Nguyễn Duy Hinh (2006), Triết học Phật giáo Việt Nam, Nxb.Văn hóa Nghệ thuật và Viện Văn hóa, Hà Nội.
3. Tổng tập nghìn năm văn hiến Thăng Long, tập 2, Nxb. Văn hóa Thông tin Thời báo Kinh tế Việt Nam, Hà Nội.
4. Mai Thọ Truyền (2007), Phật giáo Việt Nam, Nxb.Tôn giáo, Hà Nội.
5. Hải Thanh, Chùa Kiến Sơ và dòng thiền Vô Ngôn Thông, Tạp chí Nghiên cứu Phật học số tháng 9/2017, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/chua-kien-so-va-dong-thien-vo-ngon-thong.html, cập nhật ngày 19/10/17.