♦TS. Lê Thị Thu Hương
(tiếp theo và hết)
Những đặc trưng nhân cách của người Hà Nội
Tinh thần hiếu học, coi trọng tài năng và trí tuệ
Tính cách này được coi là nổi bật của người Hà Nội. Sự thuận lợi của điều kiện giáo dục đã khiến cho họ có trình độ học vấn cao, phát huy tinh thần hiếu học của dân tộc. Trường đại học đầu tiên của nước ta là Văn Miếu - Quốc Tử Giám đặt tại Hà Nội, đây cũng là một trong những trường đại học ra đời vào loại sớm nhất thế giới. Quốc Tử Giám gắn liền với tên tuổi của 2898 vị khoa bảng Việt Nam thời phong kiến, nhiều người có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của nền văn hiến Thăng Long - Hà Nội. Những dòng chữ khắc trên tấm bia tiến sĩ năm 1442, rằng "Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và hưng thịnh, nguyên khí suy yếu thì thế nước yếu và thấp hèn" đã khẳng định tư tưởng coi trọng hiền tài đã trở thành một chủ trương xuyên suốt của các triều đại, các thể chế chính trị trên đất Thăng Long - Hà Nội. Do chính sách coi trọng hiền tài nên trong suốt chiều dài lịch sử 1000 năm, hầu như các nhân tài kiệt xuất nhất của đất nước đều hội tụ về đất Thăng Long - Hà Nội, từ các nhà chính trị, quân sự tài ba, đến các nhà văn hóa, khoa học lỗi lạc.
Khi Pháp đô hộ, chọn Hà Nội làm thủ phủ của Liên bang Đông Dương, nhiều trường đại học ở xứ Đông Dương đã ra đời đầu tiên ở Hà Nội như trường Y Dược Đông Dương (1913), trường Cao đẳng Sư phạm, Cao đẳng Pháp chính Đông Dương (1917), Cao đẳng Nông Lâm (1918), Cao đẳng Thương mại và Cao đẳng Công chính (1920). Đầu thế kỷ XX, Hà Nội cũng là nơi đầu tiên có trường tư thục dạy chữ Quốc ngữ, tuyên bá tinh thần yêu nước và tự cường dân tộc - trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Người dân Hà Nội đi đầu trong phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ với sự ra đời của Hội truyền bá chữ Quốc ngữ của Nguyễn Văn Tố. Chương trình giáo dục của Hoàng Xuân Hãn với 80 giờ có thể đọc và viết được chữ Quốc ngữ cũng xuất phát đầu tiên ở Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám, Nha bình dân học vụ được thành lập tại Hà Nội đã truyền đi một nội dung giáo dục theo tinh thần dân tộc, dân chủ... Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, Hà Nội cũng là một trung tâm giáo dục lớn nhất của cả nước, nơi có nhiều nhất các cơ sở giáo dục và đào tạo. Sống trong môi trường đó, tinh thần ham học của người Hà Nội càng được phát huy. Hà Nội cũng là một trong những địa phương đi đầu cả nước hoàn thành việc xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở vào cuối thế kỷ XX.
Các đồng chí lãnh đạo thành phố Hà Nội và các Bộ, Ban, Ngành, Đoàn thể liên quan cùng 100 thủ khoa xuất sắc của Thủ đô năm 2024
Hiện nay hệ thống nghiên cứu khoa học ở Hà Nội phát triển mạnh, không địa phương nào sánh được. Hà Nội là trung tâm khoa học và công nghệ lớn của cả nước. Từ các viện nghiên cứu, các trường đại học đã thu hút nhân tài về Hà Nội và đây cũng là môi trường thuận lợi để các nhà khoa học phát huy tính sáng tạo của mình đóng góp cho sự phát triển của Thủ đô và đất nước trong thời kỳ hội nhập.
Chất tài hoa, tài tử
Người Hà Nội sống trong môi trường đô thị, có nhu cầu về một đời sống vật chất và tinh thần phong phú đa dạng. Sống trong môi trường cạnh tranh buộc họ phải khéo tay, làm ra những sản phẩm tinh xảo không chỉ để trao đổi buôn bán trong nước mà còn bán cho khách nước ngoài. Họ vốn nổi tiếng: "khéo tay hay nghề, đất lề Kẻ Chợ". Các sản phẩm của họ làm ra còn phải thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ, giải trí. Người Hà Nội có nhiều thú chơi tao nhã, làm phong phú cho cuộc sống tinh thần. Người Hà Nội sành ăn, sành mặc, sành chơi, có óc quan sát, thẩm mỹ tinh tế, chuộng cái đẹp và biết thưởng thức cái đẹp. Quá đó, họ cũng muốn chứng tỏ sự hiểu biết sâu, rộng của mình trước thiên hạ.
Chất hào hoa, phong nhã, kẻ sĩ
Đó là phong thái phóng khoáng, hào sảng, lịch duyệt, từng trải không chỉ thấy ở tầng lớp trí thức mà ở cả những người dân bình thường. Đó là sự hơi ngang tàng, tự trọng, không luồn cúi, không hạ mình, trọng danh dự, trí tuệ, đạo lý, không trọng tiền bạc.
Lòng nhân ái, tính cộng đồng, chuộng hòa bình
Đây là nhân cách của con người Việt nhưng được phát huy cao độ ở chốn Kinh Kỳ, ở những con người sinh sống trên mảnh đất Thăng Long - Hà Nội.
Lòng nhân ái của người Hà Nội thể hiện ở việc ứng xử với thiên nhiên, ứng xử giữa con người với con người. Người Hà Nội yêu thiên nhiên, Hà Nội là một trong những thủ đô xanh ở khu vực Đông Nam Á. Trên phố có cây, trong nhà có cây. Thú chơi cây cảnh của người Hà Nội cũng rất sành và tinh tế, phù hợp với không gian chật hẹp nhưng cuộc sống luôn tươi xanh. Người Hà Nội yêu hoa, không kể là những ngày lễ tết, nhiều gia đình vẫn hay có thói quen cắm hoa tươi trong nhà, nơi công sở; thích trồng hoa, cây cảnh. Hà Nội có cả những khu vườn hoa, cây cảnh nổi tiếng như hoa đào Nhật Tân, quất cảnh Tứ Liên,...
Lòng nhân ái còn biểu hiện trong quan hệ giữa con người với con người. Với vị thế là Thủ đô, nơi hội tụ dân mọi miền nên người Hà Nội có truyền thống sống hòa đồng, thân thiện, sự cố kết cộng đồng rất cao. Họ coi trọng gia đình, dòng họ, gắn kết giúp đỡ nhau trong cộng đồng chung. Trong các phố phường Thăng Long - Hà Nội truyền thống, tính chất truyền nghề, chuyên sản xuất một mặt hàng nào đó thường cho những người cùng họ hàng với nhau hoặc cho một cộng đồng người quen đã từng gắn bó với nhau tại quê cũ. Họ không tách bạch khỏi cộng đồng mà luôn "buôn có bạn, bán có phường". Ý thức cộng đồng còn thể hiện người Thăng Long - Hà Nội luôn nhớ đến quê cũ, cội nguồn của mình bằng việc đi lại thăm hỏi họ hàng ở quê, hoặc thờ vọng thành hoàng làng, ông tổ nghề, hoặc lấy âm đầu của làng quê gốc ghép vào tên các cửa hiệu do họ lập ra ở nơi phố phường như (các hiệu dệt gốc làng Cự Đà đều có tên Cự; các hiệu ảnh gốc làng Lai Xá có tên Lai....)
Chuộng hòa bình
Là nét tính cách tiêu biểu của người Thăng Long - Hà Nội. Với kẻ thù thì quả cảm trong chiến đấu nhưng khi đối phương thua trận thì khoan dung độ lượng, giữ thể diện cho nước lớn, cấp lương thảo cho về nước. Thăng Long đã chứng kiến những lần quân xâm lược bị bại trận nhưng đều được người Thăng Long - Hà Nội đối xử khoan dung, độ lượng: Chiến thắng quân Tống của nhà Lý với vai trò của Lý Thường Kiệt đã khéo léo giữ được mối quan hệ giữa hai nước sau chiến tranh. Hội thề Đông Quan đã diễn ra tại kinh thành Thăng Long khi ta chiến thắng quân Minh. Dưới sự chủ trì của Nguyễn Trãi Hội thề đã thể hiện tấm lòng khoan dung độ lượng của nhân dân ta với kẻ bại trận. Chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa của vua Quang Trung và chính sách ngoại giao mềm dẻo sau đó với nhà Thanh đã có lợi cho mối quan hệ giữa hai nước.
Người Thăng Long - Hà Nội cũng như dân tộc Việt Nam không muốn chiến tranh, mong muốn một cuộc sống bình yên. Từ câu chuyện trong truyền thuyết như việc Thánh Gióng sau khi đánh xong giặc Ân thì bay về trời; An Dương Vương chấp nhận cho Trọng Thủy ở rể để có cuộc sống yên vui cho con gái và để hai nước tin nhau, sống hòa hợp. Câu chuyện sau khi thắng giặc Minh, vua Lê Lợi trả lại kiếm cho Rùa vàng trên hồ Lục Thủy, sau gọi là hồ Hoàn Kiếm (hồ Trả Gươm). Hà Nội bắn rơi máy bay B52 nhưng người Hà Nội lại giang tay cứu giúp những viên phi công bị rơi xuống hồ hoặc đang gặp nạn. Hà Nội cũng đã chứng kiến những giờ phút những tên lính Pháp, lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Hà Nội trong sự bình yên. Lòng nhân ái, khoan dung, yêu chuộng hòa bình của nhân dân Hà Nội đã được chứng minh qua những hành động, thái độ của người dân Hà Nội, được quốc tế công nhận. Ngày 16-7-1999, tại LaPaz, thủ đô Bôlivia, UNESCO đã tổ chức trọng thể lễ trao "Giải thưởng UNESCO - Thành phố vì Hòa bình cho 5 thành phố thuộc 5 châu lục trên thế giới. Thủ đô Hà Nội là thành phố duy nhất của khu vực châu Á - Thái Bình Dương vinh dự nhận phần thưởng cao quý này.
Thanh lịch là tính cách tiêu biểu của người Thăng Long - Hà Nội
Tính cách thanh lịch của người Hà Nội đã được cả nước ghi nhận, nó mang yếu tố truyền thống và đặc trưng của người Hà Nội./.