♦ThS. Phạm Thị Phượng
Đã từ lâu trong tâm thức của người dân Việt Nam, lụa Hà Đông - lụa Vạn phúc đã trở thành biểu tượng cho sự tinh tế, khéo léo, đẹp đẽ, gắn liền với tà áo dài và vẻ đẹp của người con gái Việt. Nằm bên bờ sông Nhuệ hiền hòa, (thuộc phường Vạn Phúc, quận Hà Đông cũ,nay là phường Hà Đông, thành phố Hà Nội), làng lụa Vạn Phúc từ lâu đã trở thành cái nôi của nghề dệt lụa nổi tiếng bậc nhất Việt Nam.
“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng”
(Áo lụa Hà Đông - Nguyên Sa)
Lịch sử làng lụa Vạn Phúc
Theo sử sách và truyền thuyết dân gian, nghề dệt lụa ở Vạn Phúc có lịch sử trên 1.000 năm, gắn với công lao của bà A Lã Thị Nương - người được suy tôn là Tổ nghề dệt. Bà là người sống nhân hậu, bình dị, thành thạo nghề cửi canh. Bà dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải, giúp dân làng phồn thịnh, ấm no. Tưởng nhớ ơn công đức của bà, dân làng lập miếu thờ, suy tôn làm Thành hoàng làng, bà tổ nghề dệt lụa Vạn Phúc. Xa xưa, làng có tên là Vạn Bảo. Đến cuối thế kỷ XIX, do kỵ húy tên vua Thành Thái, làng đổi tên thành Vạn Phúc và sáp nhập vào tổng Đại Mỗ, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.
Trong suốt tiến trình lịch sử, lụa Vạn Phúc không chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt, trang phục của người dân, mà còn trở thành sản phẩm tiến cống triều đình, tượng trưng cho sự sang trọng, quý phái. Dưới triều Nguyễn, lụa Vạn Phúc được lựa chọn để may trang phục cho hoàng gia. Đến đầu thế kỷ XX, sản phẩm của làng đã được đem đi trưng bày tại các hội chợ quốc tế như Marseille (1931), Paris (1932), góp phần đưa tên tuổi lụa Việt ra thế giới.
Trải qua thăng trầm của thời cuộc - chiến tranh, biến động kinh tế, rồi thời kỳ bao cấp - nghề dệt lụa có lúc tưởng chừng mai một. Tuy nhiên, với ý chí và tình yêu nghề, cộng đồng làng Vạn Phúc đã giữ gìn, khôi phục, đưa lụa truyền thống trở lại thị trường, khẳng định giá trị di sản văn hóa lâu đời. Ngày nay, Vạn Phúc được coi là “làng nghề sống” ngay trong lòng Thủ đô, vừa sản xuất vừa trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn.
Quy trình làm sản phẩm và giá trị văn hóa của lụa Vạn Phúc.
Quy trình làm lụa Vạn Phúc là sự kết hợp tinh tế giữa kỹ thuật và nghệ thuật. Để tạo ra một tấm lụa tơ tằm truyền thống, các nghệ nhân phải trải qua một quy trình sản xuất công phu, tỉ mỉ và đòi hỏi sự khéo léo, tâm huyết ở từng công đoạn: từ trồng dâu, nuôi tằm, kéo kén, ươm tơ, chọn tơ, đẽo tơ, mắc tơ, hồ sợi, dệt lụa đến chuội sợi, nhuộm màu...
Giá trị của lụa Vạn Phúc không chỉ nằm ở chất liệu mềm mại, mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông, mà còn ở nét đẹp thẩm mỹ: hoa văn thanh nhã, tinh tế, mang đậm hồn Việt. Những mẫu hoa văn truyền thống như rồng, phượng, hoa sen, sóng nước… đã trở thành dấu ấn riêng biệt. Ngày nay, sản phẩm lụa Vạn Phúc được đa dạng hóa: từ áo dài, khăn, vải may, đến túi, ví, đồ lưu niệm. Giá trị kinh tế cao của lụa đã giúp nâng cao đời sống người dân, đồng thời khẳng định thương hiệu Việt trên thị trường trong và ngoài nước.
Di sản văn hóa đặc trưng của làng
Làng lụa Vạn Phúc không chỉ nổi tiếng với sản phẩm lụa mà còn là nơi lưu giữ nhiều di sản văn hóa độc đáo:
Nghề dệt lụa truyền thống: Đây là di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quan trọng nhất của làng. Các kỹ thuật dệt, bí quyết chọn tơ, nhuộm màu được truyền từ đời này sang đời khác, tạo nên bản sắc riêng biệt cho lụa Vạn Phúc. Sự kiên trì, tỉ mỉ và tâm huyết của người thợ dệt là một phần không thể thiếu của di sản này.
Kiến trúc làng cổ: Làng Vạn Phúc vẫn còn giữ được nhiều nét kiến trúc làng quê Bắc Bộ truyền thống với cây đa, giếng nước, sân đình và những nếp nhà cổ. Cổng làng Vạn Phúc được xây bằng gạch đỏ kiên cố, mang đậm dấu ấn thời gian, là lời mời mộc mạc mà nồng ấm chào đón du khách thập phương.
Hệ thống đình, chùa, miếu...: Đình Vạn Phúc thờ Thành hoàng làng A Lã Thị Nương - người có công truyền dạy nghề dệt. Bên cạnh đó còn có miếu Vạn Phúc nổi tiếng linh thiêng với kiến trúc độc đáo toà quan cư không mái che. Đây là những địa điểm tâm linh quan trọng gắn liền với lịch sử và truyền thuyết của làng nghề.
Lễ hội truyền thống của làng: Các lễ hội, trò chơi dân gian được tổ chức tại làng Vạn Phúc là dịp để người dân thể hiện lòng biết ơn tổ nghề, gắn kết cộng đồng và giới thiệu văn hóa làng nghề đến du khách. Đặc biệt, tuần lễ văn hóa diễn ra vào khoảng tháng 11 hằng năm thu hút đông đảo du khách, tạo nên không khí nhộn nhịp, tưng bừng.
Nghệ nhân dân gian và các thế hệ kế cận: Các nghệ nhân Vạn Phúc là những “báu vật sống” của làng, họ không chỉ tạo ra sản phẩm mà còn là người gìn giữ và truyền lửa cho thế hệ trẻ. Sự kế nghiệp của con cháu các nghệ nhân nổi tiếng như gia đình nghệ nhân Triệu Văn Mão, Nguyễn Thị Tâm, là minh chứng cho sức sống bền bỉ của di sản này.
Văn hóa làng, tình làng nghĩa xóm: Sắc thái văn hóa nghề nghiệp ở Vạn Phúc thấm sâu trong tình cảm, trong lối ứng xử của con người Việt Nam. Người dân Vạn Phúc xem mỗi dải lụa là kết tinh của đất trời, thấm đượm công sức, tài hoa của những nghệ nhân, là món quà quý giá của quê hương. Với tất cả những giá trị trên, làng Vạn Phúc không chỉ là một trung tâm sản xuất lụa mà còn là một “bảo tàng sống” về văn hóa nghề truyền thống của người Việt.
Làng lụa Vạn Phúc trong bối cảnh hội nhập.
Trong thời kỳ toàn cầu hóa, làng lụa Vạn Phúc đứng trước cả cơ hội và thách thức.
Cơ hội: Thị trường tiêu thụ rộng mở, khách du lịch quốc tế đến Hà Nội thường tìm tới Vạn Phúc để trải nghiệm không gian làng nghề; Công nghệ hiện đại hỗ trợ cải tiến mẫu mã, mở rộng kênh bán hàng trực tuyến, giúp sản phẩm tiếp cận khách hàng toàn cầu; Nhà nước quan tâm bảo tồn di sản, đưa Vạn Phúc vào các tour du lịch văn hóa.
Thách thức: Sự cạnh tranh gay gắt với sản phẩm dệt may công nghiệp giá rẻ từ Trung Quốc, Thái Lan; Làng nghề đứng trước nguy cơ thương mại hóa, mất đi bản sắc nếu chạy theo lợi nhuận mà quên đi giá trị truyền thống; Lực lượng thợ trẻ ít mặn mà nối nghề do thu nhập chưa ổn định, trong khi thợ cao tuổi dần ít đi.
Để thích ứng trong bối cảnh hiện đại, Vạn Phúc đã có nhiều bước đi tích cực: phát triển du lịch làng nghề, gắn trải nghiệm dệt lụa với văn hóa - ẩm thực - nghệ thuật; kết hợp giữa sản phẩm truyền thống và sáng tạo hiện đại; đăng ký thương hiệu “Lụa Vạn Phúc” để bảo vệ uy tín trên thị trường. Hiện nay, đến với Vạn Phúc, du khách sẽ được tham quan làng nghề; trải nghiệm các công đoạn làm lụa; mua sắm tại các gian hàng với nhiều mẫu mã, mặt hàng đa dạng, phong phú; chụp hình dưới con đường ô rực rỡ sắc màu và rất nhiều khung cảnh đẹp khác của làng; thưởng thức ẩm thực đặc trưng đồng bằng Bắc bộ... Trong tương lai, nếu biết giữ vững hồn cốt truyền thống, đồng thời ứng dụng công nghệ và marketing hiện đại, Vạn Phúc sẽ không chỉ là làng nghề mà còn là trung tâm văn hóa - du lịch, góp phần quảng bá hình ảnh Thủ đô, đất nước Việt Nam ra thế giới.
Làng lụa Vạn Phúc là minh chứng sống động cho sự trường tồn của nghề thủ công truyền thống Việt Nam. Từ hơn một thiên niên kỷ qua, người dân nơi đây đã giữ gìn, phát triển nghề dệt lụa, tạo nên sản phẩm mang giá trị văn hóa, thẩm mỹ và kinh tế đặc sắc. Trong bối cảnh hội nhập, Vạn Phúc vừa phải đối diện với nhiều thách thức, vừa có cơ hội lớn để khẳng định thương hiệu quốc gia. Giữ gìn và phát huy giá trị của lụa Vạn Phúc không chỉ là trách nhiệm của cộng đồng làng nghề, mà còn là trách nhiệm chung của xã hội trong việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc./.
Hội làng lụa Vạn Phúc
Khung cảnh rực rỡ tại làng lụa Vạn Phúc
Tài liệu tham khảo
[1]. Chi Chi, Về Vạn Phúc, nghe kể chuyện nghề dệt lụa, tuoitrethudo.com.vn, 1-6-2023.
[2]. Nguyễn Kiên, (2001) Vạn Phúc xưa và nay, NXB Hội nhà văn.
[3]. Nguyễn Thị Thanh Loan, Giá trị văn hóa của làng lụa Vạn Phúc trong phát triển du lịch Hà Nội, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 379, 1-2016.
[4]. Vũ Quốc Tuấn, (2011), “Làng nghề trong công cuộc phát triển đất nước, XNB tri thức, HN.
[5]. Trương Sỹ Tâm, Vạn Phúc phát triển du lịch bền vững, vtr.org.vn, 7-8-2015.
[6]. Trần Quốc Vượng, (1996), “Nghề truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề”, NXB Văn hóa dân tộc.
[7]. Bùi Văn Vượng, (1998), “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” NXB Văn hóa dân tộc.