GS.TS Trương Quang Hải
Trong tâm thức người Việt, Thăng Long - Hà Nội là biểu tượng của một vùng đất “tụ thủy, tụ nhân”. Năm 1010, đức Lý Thái Tổ với tầm nhìn thiên niên kỷ đã chọn Đại La làm kinh đô bởi nơi đây hội tụ đủ các giá trị mà địa lý hiện đại gọi là tài nguyên vị thế. Đó là điểm giao thoa giữa miền núi phía Bắc và đồng bằng bãi bồi, tạo nên một hành lang kinh tế - văn hóa xuyên suốt lịch sử. Hà Nội hôm nay, với diện tích mở rộng lên đến 3.358,6 km², vùng đất trải dài từ cực Bắc (Sóc Sơn - 21°23’B) xuống cực Nam (Mỹ Đức - 20°33’B), từ đỉnh núi Ba Vì phía Tây (105°16’Đ) sang đến vùng bãi Gia Lâm phía Đông (106°01’Đ). Một không gian rộng lớn bao la, nơi quá khứ "rồng cuộn hổ ngồi" hòa quyện trong hơi thở đô thị hiện đại.
Nền móng địa chất và sự biến ảo của địa mạo: Sức mạnh của vùng đất này bắt nguồn từ sâu trong lòng đất, trên đới trượt cắt Sông Hồng – cấu trúc kiến tạo đã tôi luyện nền móng Hà Nội suốt 500 triệu năm. Sự phân hóa địa hình tạo nên một cảnh quan ngoạn mục: phía Tây là khối núi Ba Vì hùng vĩ với đỉnh Vua cao 1.296m, mây phủ quanh năm, đóng vai trò như bức tường thành tự nhiên che chắn cho kinh thành. Chạy dọc phía Nam là vùng núi đá vôi Karst Mỹ Đức, Quốc Oai với những hang động kỳ ảo, tạo nên thế "tựa sơn" vững chãi. Chuyển tiếp từ núi cao xuống đồng bằng là những gò đồi lượn sóng, trước khi mở ra vùng bãi bồi trù phú được phù sa sông Hồng bồi đắp lâu dài.
Hệ thủy văn của thành phố sông hồ: Hà Nội không chỉ nằm cạnh sông mà được hình thành bởi sông. Sông Hồng giữ vai trò trục xương sống của hệ thống thủy văn Hà Nội, với khoảng 163km chảy qua địa bàn Thủ đô. Cùng với các phụ lưu như sông Đà và các chi lưu như sông Đuống, sông Đáy, dòng sông này tạo nên một mạng lưới thủy văn năng động, nơi sự tương tác giữa dòng chảy mạnh và lượng phù sa lớn đã hình thành các bãi bồi trù phú, qua đó định hình sinh kế và không gian cư trú của cư dân ven sông. Bên cạnh trục sông chính, Hà Nội còn có hệ thống sông nội đô và dấu tích lòng sông cổ mang tính đặc thù. Các dòng sông như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Nhuệ không chỉ gắn với huyền tích và ký ức đô thị, mà về mặt địa lý vốn là những chi lưu của sông Hồng hoặc là các đoạn lòng sông cổ còn sót lại trong quá trình biến đổi địa mạo và phát triển đô thị của châu thổ.
Hệ thống hồ nội thành - Những "hồ sót" địa mạo: Nét đặc trưng của nội đô Hà Nội là hệ thống hồ đầm dày đặc, vốn là kết quả của quá trình bồi tụ và đổi dòng của sông Hồng. Hồ Tây là một "hồ móng ngựa" điển hình - vết tích của khúc uốn sông Hồng cổ bị bỏ lại sau khi dòng chính dịch chuyển. Các hồ khác trong khu vực nội thành như Hồ Trúc Bạch, hồ Bảy Mẫu, hồ Thiền Quang, hồ Thành Công, hồ Giảng Võ thực chất là những phần sót lại của các lòng sông cổ và các nhánh sông Tô Lịch, Kim Ngưu cũ. Chúng tạo thành một mạng lưới liên thông tự nhiên, đóng vai trò là những túi chứa nước điều tiết, giúp giải nhiệt cho đô thị và tạo nên bản sắc "thành phố hồ" duyên dáng. Bên cạnh đó là các hồ cấu trúc kiến tạo và hồ nhân tạo như hồ Quan Sơn, Suối Hai,... đóng vai trò là những "tấm gương" điều hòa nhiệt độ, tạo nên vi khí hậu mát mẻ và không gian thoát nước quan trọng cho đô thị.
Khí hậu bốn mùa thể hiện nhịp đập chuyển mình của thiên nhiên. Khác với nền khí hậu nắng nóng cường độ cao ở phương Nam, khí hậu Hà Nội mang đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, với sự phân hóa rõ rệt theo mùa, tạo nên những sắc thái thời tiết riêng biệt trong năm. Sự thay đổi theo mùa ấy không chỉ làm biến đổi cảnh quan tự nhiên - từ sắc lá, mặt nước đến không gian cây xanh - mà còn in dấu trong nhịp sinh hoạt, tập quán và cảm quan sống của người Hà Nội.
Mùa Xuân (tháng 2 - tháng 4): Đây là mùa của sự hồi sinh. Khi những đợt gió rét đậm qua đi, Hà Nội đón nhận những làn mưa xuân phùn ẩm ướt, nhiệt độ nhích dần lên tạo nên độ ẩm cao. Đây là lúc hệ sinh thái bừng thức, những làng hoa ven sông Hồng như Nhật Tân, Quảng Bá bước vào mùa khoe sắc rực rỡ nhất.
Mùa Hè (tháng 5 - tháng 8): Giai đoạn nóng ẩm nhất trong năm với luồng gió Đông Nam thổi từ biển vào. Lượng mưa lớn trong thời gian này cung cấp nguồn nước dồi dào cho hệ thống sông ngòi, nhưng cũng là lúc thử thách bản lĩnh thích ứng của con người trước quy luật lũ lụt sông Hồng.
Mùa Thu (tháng 9 - tháng 11): Mùa thu là nét độc đáo nhất của khí hậu Thủ đô. Khi gió heo may bắt đầu se lạnh, bầu trời trở nên cao xanh, nắng hanh vàng và độ ẩm giảm nhẹ. Mùa thu Hà Nội không chỉ là cảm hứng thi ca mà còn là giai đoạn tuyệt vời nhất để các hệ sinh thái đất ngập nước ven sông và hồ đầm nội đô đạt đến sự cân bằng cảnh quan đẹp nhất.
Mùa Đông (tháng 12 - tháng 1): Chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc, với nền nhiệt thấp và độ ẩm giảm, qua đó tạo nên vụ đông - một đặc trưng sinh thái - nông nghiệp riêng của vùng Bắc Bộ, góp phần đa dạng hóa sinh kế ven đô Hà Nội.
Các hệ sinh thái của Hà Nội thể hiện rõ tính đa dạng không gian, từ miền núi đến đồng bằng châu thổ. Trên dãy Ba Vì, hệ sinh thái rừng nhiệt đới phát triển trong điều kiện địa hình cao và khí hậu mát hơn, nơi mây ngàn hội tụ, thảm thực vật phân hóa theo độ cao và lưu giữ nhiều nguồn gen quý hiếm của vùng núi. Ở khu vực núi đá vôi, các khối núi như những “đảo đá giữa đồng bằng” tại chùa Hương, chùa Thầy hình thành quần thể sinh vật hang động đặc hữu, tạo nên một không gian sinh thái khép kín và độc đáo. Dọc theo các bãi bồi ven sông Hồng và tại những vùng đất ngập nước như hồ Quan Sơn, hồ Suối Hai, hệ sinh thái thủy sinh phát triển mạnh, trở thành nơi cư trú và dừng chân của các đàn chim di cư cùng thế giới sinh vật nước phong phú. Đan xen trong các không gian tự nhiên ấy là hệ sinh thái nhân sinh, thể hiện qua những làng hoa Nhật Tân, Quảng Bá, các vườn cây ăn quả ven sông và những ô trũng trong đê, nơi con người thích ứng với điều kiện thổ nhưỡng đa dạng, từ đất feralit vùng núi đến đất phù sa trung tính, tạo nên một bức tranh sinh thái - văn hóa nhiều tầng lớp.
Địa lý tự nhiên Hà Nội không chỉ là những con số về diện tích hay tọa độ, mà là một hệ thống sống động, giàu sức hấp dẫn và đầy ắp tiềm năng. Từ nền móng kiến tạo bền vững đến hệ sinh thái đa tầng, Hà Nội xứng đáng với nhận định trong Chiếu dời đô về một mảnh đất “muôn vật cực kỳ tươi tốt, phồn thịnh”. Hiểu để thêm yêu vùng đất này, chúng ta sẽ nhận ra rằng mỗi ngọn núi, mỗi dòng sông đều mang trong mình một phần hồn cốt dân tộc, tạo nên nền tảng tự nhiên để Thủ đô phát triển hài hòa, bền vững và giàu bản sắc./.