♦ThS. Nguyễn Văn Phương
Được xây dựng vào năm Thần Vũ thứ hai đời vua Lý Thánh Tông (năm 1070), Văn Miếu tại kinh đô Thăng Long đánh dấu sự xuất hiện sớm của một thiết chế văn hóa – giáo dục mang tính quốc gia, phản ánh bước chuyển quan trọng trong tư tưởng trị quốc của Đại Việt từ Phật giáo dần sang Nho giáo. Việc dựng miếu thờ Khổng Tử và các bậc tiên triết, tiên hiền Nho học không chỉ xác lập vị thế của Nho giáo trong đời sống chính trị – xã hội, mà còn khẳng định tầm nhìn chiến lược của triều đình trong việc xây dựng nền tảng văn trị dựa trên tư tưởng Nho gia. Đến khi Quốc Tử Giám được thành lập (1076), Văn Miếu – Quốc tử giám trở thành trung tâm giáo dục tối cao của quốc gia, nơi đào tạo con em quý tộc, quan lại và về sau mở rộng cho các nho sinh ưu tú khắp cả nước. Đồng thời, đây cũng là nơi diễn ra một nghi thức học quan trọng của triều đình đó là lễ tế Khổng Tử - bậc Thánh nhân được tôn xưng mẫu mực người thầy của muôn đời (Vạn thế sư biểu). Theo Đại Việt Sử ký toàn thư có chép: “Năm Canh Tuất, niên hiệu Thần Vũ năm thứ 2 (1070) Mùa thu, tháng 8, xây Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến học ở đây.”. Việc nhà Lý cho xây Văn Miếu, xác lập việc thờ cúng Khổng Tử và các bậc hiền triết của Nho gia đã đặt nền móng, khơi mạch nguồn đạo học cho Đại Việt, và có thể nói từ đó trở đi các triều đại nước ta, đời nào cũng coi trọng việc khoa cử đi liền với phụng thờ Khổng Tử.
Thời nhà Trần, năm Quý Sửu, niên hiệu Nguyên Phong năm thứ 3 (1253), Trần Thái Tông cho lập Quốc học viện, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Á Thánh (Mạnh Tử), vẽ tranh 72 người hiền để thờ.
Triều Lê, năm Ất Mão, niên hiệu Thiệu Bình thứ 2 (1435), Lê Thái Tông sai Thiếu bảo Lê Quốc Hưng làm lễ tế tiên sư Khổng Tử vào ngày Đinh, từ đấy về sau coi là thường lệ. Đến năm Quang Thuận thứ 6 (1465), Lê Thánh Tông định lệ tế Văn miếu ở các trấn, lộ vào hai ngày đinh của mùa xuân và mùa thu. Niên hiệu Hồng Đức năm thứ 14 (1483), Thánh Tông cho làm điện Đại Thành, xây đông vu, tây vu ở Văn miếu cùng điện Canh Phục, kho ván in, kho chứa đồ tế lễ, đông tây đường nhà Minh Luân.
Đến triều Nguyễn, việc đặt quy chế xây dựng và tế lễ ở Văn Miếu đã trở thành quy củ trong điển lệ triều đình. Năm 1803 vua Gia Long cho thiết lập hệ thống Văn Miếu ở các dinh trấn toàn quốc, góp phần hoàn chỉnh từng bước hệ thống thờ tự Văn Miếu ở nước ta, khi ấy Văn Miếu trở thành nơi một trong những nơi tế tự quan trọng bậc nhất của chính quyền các tỉnh tại địa phương. Năm Minh Mệnh thứ 18, Lễ bộ nghị bàn nghi tiết tế Văn Miếu tấu trình và được phê chuẩn để chuẩn hóa nghi thức tế tự cho Văn Miếu kinh đô và Văn Miếu hàng tỉnh trong cả nước.
Tế lễ vốn là nghi thức quan trọng trong điển Lễ của Nho gia, hàm chứa những giá trị tư tưởng sâu sắc. Sách Lễ Ký -Tế Thống có viết: “Trong việc trị người, không có gì quan trọng hơn Lễ. Lễ có năm loại lớn, không gì quan trọng bằng Tế lễ ”. Tế rất được coi trọng bởi không chỉ là nghi thức sự thần cầu phúc, hiếu kính tổ tiên mà còn chứa đựng tính giáo dục, vượt khỏi một hoạt động tín ngưỡng để làm nổi bật giá trị nhân văn, đạo đức truyền thống. Người xưa khi lập học ắt phải tế tiên thánh và tiên sư là để báo gốc truy nguồn, tôn sùng đạo đức mà khuyến khích sự học.
Hình ảnh lễ tế tại Văn Miếu – QTG Hà Nội do Ban Nghi lễ Nhân Mỹ học đường thực hiện
Xét theo sách Lễ Ký Chính Nghĩa và một số tư liệu thì lễ Thích điện tại trường học có tổng cộng bảy hình thức, bao gồm: Lễ tế bốn mùa, lễ tế khi thành lập trường học, lễ tế khi thầy trở về, và lễ tế khi vua thị sát trường học. Trong Lễ Luận của Tuân Tử có nói nội dung cốt lõi của “Lễ” được quy về ba yếu tố chính là Thiên địa, Tổ tiên và Quân sư (Vua và thầy). Bởi thiên địa là nguồn gốc của sự sống; tổ tiên là nguồn gốc của các giống nòi; Vua và thầy là gốc của sự ổn định … Vì vậy, Lễ trên là thờ trời, dưới là thờ đất, tôn tiên tổ mà làm long trọng ngôi vua và thầy. Đó là ba gốc của Lễ. Lễ Thích điện thuộc về lễ “Quân sư” trong ba loại lễ này. Chính vì vậy mà thời cổ việc cai trị quốc gia với trường học có mối quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát triển của các nghi lễ trường học đến việc tế Khổng Tử phản ánh một quá trình lịch sử dài và phức tạp trong việc xác định và củng cố vị trí của Khổng Tử và các học giả Nho học trong xã hội Trung Hoa nói riêng và các quốc gia chịu ảnh hưởng của Nho giáo nói chung. Nghi thức cúng tế trong Văn Miếu ở cấp độ quốc gia rõ ràng có mối liên hệ mật thiết với nghi thức cúng tế trong các trường học đã nêu trước đó, và có thể coi như biểu hiện của tinh thần tôn sư trọng đạo, truyền thừa văn minh được duy trì liên tục. Có thể nói, việc cúng tế trong Văn Miếu đã làm nổi bật thêm yếu tố nhân văn, không chỉ có tác dụng quảng bá đạo đức truyền thống Nho giáo mà còn ảnh hưởng đáng kể đến việc xây dựng niềm tin trong xã hội truyền thống. Dù trải qua thời gian lâu dài và có những sự thay đổi trong nghi thức tế tự tại trường học cho đến tế Văn Miếu, nhưng quan điểm của Nho gia trong tế Khổng là biểu trưng của tinh thần tôn Đạo, bao dương Thánh nhân chứ không phải là phụng sự quỷ thần, không nhằm thần thánh hóa Khổng Tử, điều này khiến ý thức nhân văn trong các nghi lễ của Văn Miếu được làm nổi bật và màu sắc tôn giáo trở nên mờ nhạt. Qua đó có thể thấy quan điểm về việc cúng tế Khổng Tử để thể hiện sự tôn vinh các giá trị mà Khổng Tử thiết lập, từ đó đạt được sự ổn định và trật tự trong xã hội. Nghi lễ tế tự trong trường học thời cổ đến tế tự Văn Miếu xét về nghi thức hay mục tiêu luôn chú trọng vào xã hội thực tế, chứ không phải vào thế giới huyền bí. Tính truyền thừa trong giáo dục cũng được thể hiện qua việc phối thờ các thánh nhân Nho giáo cùng hưởng tự với Khổng Tử mà đã được chính thức công nhận qua các triều đại. Sự hình thành của hệ thống thờ cúng này vừa dựa trên các quy tắc lễ nghi cổ đại, vừa được sự thúc đẩy mạnh mẽ của các thế hệ Nho giáo sau này, và dần trở thành khuôn mẫu cho hệ thống thờ cúng trong Văn Miếu sau này.
Mặc dù mỗi triều đại có thể phụ thờ các đại Nho khác nhau vào hệ thống thờ tự Khổng miếu, nhưng có một điểm chung là trong số đó không ai là không phải là một biểu trưng xuất sắc về văn chương và đạo đức. Tinh hoa của tư tưởng Nho giáo chính là được truyền đạt và làm sâu sắc hơn thông qua sự truyền thừa các thế hệ nhà Nho này. Có thể thấy Văn Miếu như một biểu tượng của hệ thống giáo dục với Khổng Tử là trung tâm, và các thánh nhân Nho giáo bao quanh. Vì vậy, thờ phụng trong Văn Miếu vượt xa một cơ sở thờ tự tín ngưỡng, mà nó có ý nghĩa quan trọng đối với xã hội truyền thống.
Nói cách khác, nghi thức cúng tế của Nho gia chỉ là hình thức bên ngoài, việc duy trì nhân tâm và củng cố thế đạo mới chính là mục tiêu và mục đích của nghi lễ. Do đó, cúng tế trong phạm vi trường học hay sau này là Văn Miếu luôn tập trung vào công tác giáo hóa. Chức năng giáo hóa chủ yếu thể hiện qua hệ thống đối tượng thờ phụng. Khổng Tử được coi là người sáng lập, nhưng sự tiếp nối và phát triển của đạo Khổng không thể thiếu sự kế thừa bổ sung của những học giả sau này mà đầu tiên chính là những người học trò của Khổng tử, sau này là những bậc danh Nho có công truyền dạy phát huy đạo học . Vì vậy, các triều đại đã đưa những hiền nhân học giả có công trong việc truyền thừa Nho học vào hệ thống thờ tự, nhằm xây dựng các “khuôn mẫu” để thế hệ sau noi theo. Đối với Nho gia, việc tế tự tiên Thánh, tiên sư như một phương thức xây dựng niềm tin đạo đức trong xã hội truyền thống, điều này không chỉ ở xã hội Trung Quốc mà còn lan truyền và ảnh hưởng sâu rộng đến các quốc gia đồng văn, trong đó có Việt Nam.
Trong bối cảnh hiện nay, khi tinh thần tôn sư trọng đạo ít nhiều bị ảnh hưởng bởi nhịp sống hiện đại, nhiều giá trị văn hóa truyền thống bị mai một bởi lỗ hổng kiến thức về cổ học. Thì việc khôi phục một nghi lễ mang giá trị biểu trưng trong không gian Văn Miếu hay trường học có thể phần nào đánh động vào tâm thức đương thời, khơi dậy một giá trị cao đẹp của tiền nhân mà bấy lâu nay bị phủ bụi thời gian./.