Hà Nội
Thứ Tư, 04/02/2026
16.4 oC

Dân cư Hà Nội (phần 2)

♦TS. Lê Thị Thu  Hương 

(tiếp theo và hết)

Về dân cư Hà Nội bao gồm: Cư dân gốc bản địa - những người đến sinh cơ lập nghiệp trên vùng đất này từ thời tiền sử, trải qua thời gian vẫn gắn bó với mảnh đất này; Cư dân từ nơi khác đến Hà Nội, bộ phận này rất phức tạp và luôn có sự thay đổi về thành phần, số lượng qua các thời kỳ lịch sử, gắn với những biến động chính trị và sự thay đổi về địa giới hành chính.

Xét về bản chất, ban đầu cư dân cổ Hà Nội vốn là cư dân làm nghề nông nghiệp ven sông, ngoài ra còn các nghề thủ công truyền thống như đúc đồng, làm gốm. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, vùng đất này là nơi giao thương buôn bán dễ dàng, vì vậy đa số cư dân gốc ở đây cùng với thợ thủ công các vùng lân cận đến Hà Nội, dần dần họ chuyển sang làm nghề thủ công truyền thống gắn với buôn bán. Từ đó hình thành nên những phố phường gắn với nghề thủ công truyền thống. Thời Lý đã xuất hiện 61 phường và đến thời Lê, năm 1466, Thăng Long được quy gọn thành 36 phường vừa gắn với địa giới hành chính vừa gắn với đặc trưng ngành nghề thủ công nghiệp. Cư dân sinh sống quần tụ theo phường nghề, vừa làm nghề thủ công vừa buôn bán. Bộ phận cư dân này có thể coi là cư dân gốc của Thăng Long - Hà Nội. Ngày nay bộ phận cư dân gốc Hà Nội sống chủ yếu trong các quận nội thành, mà cái lõi là các quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, một phần quận Tây Hồ, Hai Bà Trưng và Đống Đa (nay là một phần của khu vực trung tâm).

Cư dân Thăng Long - Hà Nội thời phong kiến gồm hoàng gia, quan lại, binh lính, sư sãi và các tầng lớp bách tính thứ dân như thợ thủ công, thương nhân và nông dân. Ngoài ra còn một số ít người gốc gác ở Phủ đô hộ từ trước. Một bộ phận người Hoa đến Thăng Long khá sớm, làm ăn buôn bán và hình thành cả một khu phố - phố Phúc Kiến (nay là phố Lãn Ông), chủ yếu làm nghề bốc thuốc Bắc. Phố Phúc Kiến là một trong 36 phố phường cổ của Hà Nội xưa. Trải qua thời gian, nhóm người Hoa đến Hà Nội làm ăn sinh sống đã Việt hóa, Hà Nội hóa trở thành một bộ phận nhỏ của cư dân Hà Nội. Với những yếu tố và hoàn cảnh khác nhau, cư dân khắp các địa phương tụ hội về Thăng Long - Hà Nội, hội tụ đến để học tập, làm các công việc của chính quyền (sĩ tử, quan lại), hội tụ về Thăng Long để làm ăn sinh sống (thợ thủ công, người buôn bán,...) và có cả một số "tù binh" sau các cuộc đụng độ giữa các tập đoàn phong kiến cũng tập trung về Thăng Long - Hà Nội, trong số đó có cả những cá nhân ưu tú, trí thức, nghệ nhân, nghệ sĩ cũng được đưa về quốc đô. Trong lịch sử có ghi lại sau những lần dẹp loạn Chiêm Thành, từ thời Lý - thế kỷ XI nhiều "tù binh" đã bị bắt về Thăng Long. Dấu ấn mà cư dân Chămpa góp phần vào phát triển kinh đô Thăng Long là những viên gạch Chăm góp phần xây dựng các công trình kiến trúc của Thăng Long. Trong số đó nổi bật là công trình tháp Báo Thiên, giếng nước có miệng bằng đá, có phong cách kĩ thuật Chăm và đặc biệt là các hiện vật khai quật được tại Hoàng thành Thăng Long.

 

anh-pho-lan-ong.jpgPhố Lãn Ông nổi tiếng với lối kiến trúc độc đáo, mang những dấu ấn đặc trưng của nét văn hóa Đông Y 

 Các cuộc xung đột giữa các triều đại phong kiến như thời kỳ Nam - Bắc triều, thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh cũng đã kéo theo sự thay đổi ít nhiều về cư dân và cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Sự thay đổi chủ yếu từ nhóm dân cư không phải gốc Hà Nội. Thời kỳ Lê Trung Hưng, binh lính Thanh - Nghệ An có mặt khá đông ở kinh thành Thăng Long, gây ra nạn kiêu binh, dân vùng Thanh - Nghệ An (chủ yếu là gia đình binh lính) cũng kéo ra Thăng Long sinh cơ, lập nghiệp tăng theo thời gian. Từ thế kỷ XVII, tại đất Thăng Long cũng thấy sự có mặt của các thương nhân phương Tây đến buôn bán như người Hà Lan, người Bồ Đào Nha... Thăng Long trở thành nơi buôn bán nhộn nhịp của một cộng đồng dân cư khá đa dạng. Làm nên sự phồn thịnh "Thứ nhất Kinh Kỳ" chính là cộng đồng cư dân Thăng Long bao gồm cả cư dân gốc bản địa và cư dân nơi khác đến Thăng Long - Hà Nội.

Sang thời kì cận đại, khi Hà Nội trở thành vùng đất nhượng địa của Pháp (năm 1888) thì người Pháp đã kéo đến Hà Nội, một bộ phận là những quan chức thuộc địa, nắm giữ các trọng trách ở các cơ quan dân sự, quân sự, trong bộ máy thống trị ở Đông Dương mà Pháp đặt tại Hà Nội như Phủ Toàn quyền, Phủ Thống sứ, Đốc lý Hà Nội, Tổng chỉ huy quân đội Pháp, Sở Mật thám Liên bang, Tòa án thượng thẩm,....Số đông quan chức thuộc địa cao cấp là người của các tập đoàn tư bản lũng đoạn Pháp, một số có cổ phần hùn vốn vào trong các tập đoàn tư bản lũng đoạn đó. Bộ phận thứ hai gồm các chủ các doanh nghiệp (tập đoàn, công ty, hãng,...), có cơ sở sản xuất kinh doanh hoăch chi nhánh, có văn phòng đặt tại Hà Nội. Tư bản Pháp giữ các vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế Hà Nội, nắm độc quyền trên nhiều lĩnh vực, có thế lực lớn, chiếm số đông trong Hội đồng thành phố, có tiếng nói quyết định trong Hội đồng. Chính vì số người Pháp ở Hà Nội khá đông nên đã có những trường học dành riêng cho con em người Pháp như trường trường trung học Albert Sarraut (thành lập năm 1919), nổi tiếng nhất Đông Dương. Ngoài ra còn có các trường khác như Petit Lycée (tiểu học), trường nữ học Pháp, và sau này là trường tư thục Lyceum Victor Hugo (1951-1954). Các trường này giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Pháp theo chương trình chính quốc. 

            Hà Nội còn có tư sản ngoại kiều như Hoa kiều, Ấn kiều và Nhật kiều,..nhưng đông nhất vẫn là Hoa kiều. Tư sản Hoa kiều buôn bán làm ăn ở Hà Nội lâu đời, chủ yếu trong các khu phố cổ của Hà Nội như Phúc Kiến, Hàng Buồm, Hàng Ngang, Hàng Bồ... Hoa kiều kinh doanh chủ yếu về thương nghiệp và dịch vụ. Họ có nhiều hiệu buôn lớn ở Hà Nội như Chí Long, Chí Hưng, Chính Thái, Ninh Thái, Nhị Thiên Đường,...

            Tư sản Ấn kiều, số lượng ít, chủ yếu kinh doanh vải vóc, tơ lụa ở phố Hàng Đào, Tràng Tiền,..Trong quá trình kinh doanh, tư sản Hoa kiều cũng có sự cạnh tranh với tư sản người Việt và cũng bị tư bản Pháp chén ép nên ở một mức độ nào đó họ cũng có tinh thần chống Pháp và phát xít Nhật. Nhiều người trong số họ cũng có cảm tình với Việt Minh. Con em của tư sản Hoa kiều học tại các trường dành cho học sinh người Hoa. Học sinh Hoa kiều đã có những hoạt động cùng với học sinh Việt Nam đấu tranh chống phát xít Nhật thời kỳ 1940 -1945 tại Hà Nội.

            Tư sản Nhật kiều hoạt động không đáng kế, phải đến khi quân đội Nhật vào Hà Nội thì các công ty của Nhật mới thực sự có mặt ở Hà Nội như hãng Mítsui, Mít subisi, Đại Nam kosi,..

Như vậy vùng đất Thăng Long - Hà Nội từ rất sớm đã xuất hiện sự sinh sống của người Việt cổ. Do vị thế địa chính trị thuận lợi nên cũng từ rất sớm nơi đây đã diễn ra quá trình tụ cư và hình thành nên cộng đồng dân cư Hà Nội với hai thành phần chính là cư dân gốc Hà Nội và cư dân từ nơi khác do những hoàn cảnh khác nhau tụ về Hà Nội. Mảnh đất Hà Nội đã sàng lọc một cách tự nhiên để hình thành nên những cốt cách rất đặc trưng của người Hà Nội.

 

--------------------------------

 

Tài liệu tham khảo

 1. Đỗ Thị Minh Đức - Nguyễn Viết Thịnh (2019), Dân cư Thăng Long - Hà Nội, Nxb HN.

2. Phan Huy Lê (CB) (2012), Lịch sử Thăng Long Hà Nội, tập 2, Nxb HN.

3. Nguyễn Quang Ngọc, Lê Thị Thu Hương (đồng CB), (2018), Giáo trình Hà Nội học, Nxb ĐHQG.HN.